Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1. Khái niệm đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm đô thị Khái niệm đô thị Xã hội loài người chúng ta đã luôn phát triển qua bao nhiêu thời kỳ, từ thời kỳ nguyên thủy cho đến xã hội cổ đại và vẫn không ngừng phát triển cho đến ngày nay. Dân cư trên thế giới ngày một tăng lên về số lượng một cách nhanh chóng và chất lượng cuộc sống dân cư cũng không ngừng được cải thiện qua từng thời kỳ một.
Ngày xưa, con người nguyên thủy tìm được nơi cư trú trong tự nhiên như ở trong các hang động, con người tổ chức những quần cư nhỏ lẻ. Sau này khi dần làm chủ được tự nhiên, con người đã bước đến một bước tiến khác đó là xây dựng nơi cư trú tốt hơn, tổ chức sống quần cư ở một mức độ cao hơn. Từ những quần cư nhỏ lẻ phát triển ngày một lớn dần, trở thành đô thị. Quá trình hình thành đô thị thực chất là quá trình thay đổi về đặc điểm cư trú, hoạt động kinh tế của dân cư, cơ sở vật chất kĩ thuật và cảnh quan thiên nhiên.
Để định nghĩa được khái niệm đô thị, đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất giữa các quốc gia, đặc biệt các chỉ tiêu, khái niệm xác định và phân loại đô thị vẫn chưa đồng nhất ngay trong một nước. Như vậy, để hiểu được đô thị là gì, ta có thể xem xét một số khái niệm sau: Theo “Địa lí đô thị” của TS. Phạm Thị Xuân Thọ, ta có thể hiểu đô thị như sau: - Đô thị là một điểm quần cư trong đó đại bộ phận dân cư sử dụng đa số thời gian sản xuất ngay trong khu vực cư trú. - Đô thị là một điểm quần cư trong đó đại bộ phận dân cư sử dụng đa số thời gian sản xuất phi nông nghiệp ngay trong khu vực cư trú.
- Đô thị là nơi tập trung nhân khẩu, tập trung nhiều ngành sản xuất công nghiệp, có những tổ chức dân cư riêng biệt. 9 - Theo Ratzel (1960): “Đô thị là sự tích tụ lâu dài của người và chỗ ở của họ, chiếm một không gian không đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn” [11, tr.7] - Theo Richtofen (Berlin 1968): “Đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp mà trước hết dựa vào công nghiệp và ông cũng cho rằng, người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu về sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp.7] Qua một số khái niệm nêu trên, ta nhận thấy vẫn có sự chưa đồng nhất về khái niệm đô thị. Thực tế thì vẫn có những đô thị chủ yếu mang chức năng du lịch, nghỉ dưỡng mà ít khi tồn tại hoạt động của sản xuất công nghiệp, cũng có những điểm tập trung dân cư cao độ nhưng chỉ ở một thời điểm nhất định (ví dụ như chỉ để khai thác khoáng sản, sản xuất theo thời vụ) rồi sau đó lại rời đi. Vậy nên, khái niệm về đô thị không chỉ bao gồm việc nơi đó tập trung đông đúc dân cư mà còn phải dựa vào nhiều tiêu chí xác định khác.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị thì đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản như sau: + Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; + Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%; + Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị + Mật độ dân cư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị. Theo Luật Quy Hoạch đô thị năm 2009: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ dân số cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia hoặc một 10 vùng lãnh thổ, địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của một thành phố; nội thị, ngoại thị của một thị xã, thị trấn [Điều 3, mục 1]. Qua các khái niệm mà tác giả trình bày, có thể hiểu tóm tắt rằng đô thị là khu vực tập trung dân số với mật độ cao và hoạt động kinh tế của dân cư chủ yếu là các ngành phi nông nghiệp. Ngoài ra, còn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia mà ta có những nhận định cụ thể khác nhau về đô thị.
Phân loại đô thị Trên thế giới, các đô thị rất đa dạng về quá trình hình thành, về quy mô và chức năng đô thị. Bởi vì vậy, việc phân loại đô thị cũng tùy thuộc theo từng quốc gia với nhiều cách phân loại khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại đô thị phổ biến của các quốc gia trên thế giới: - Phân loại đô thị theo dân số: Dân số là một trong những chỉ tiêu cơ bản nhất của đô thị. Dân số có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, nhà ở và các công trình công cộng.
Hiện nay các quốc gia thường phân loại đô thị theo dân số ở các cấp như: + Đô thị nhỏ: dân số dưới 100.000 người + Đô thị trung bình: dân số trên 100.000 người đến 1 triệu người + Đô thị lớn: dân số từ 1 triệu người đến 10 triệu người. + Đô thị rất lớn (Megacity): dân số trên 10 triệu người - Phân loại đô thị theo chức năng kinh tế: cách phân loại này dựa trên hình thức hoạt động kinh tế chủ yếu của đô thị, gồm các đô thị như sau: + Đô thị công nghiệp + Đô thị du lịch + Đô thị thương mại, dịch vụ - Phân loại đô thị theo quản lí hành chính: việc phân loại này phụ thuộc vào việc phân cấp tổ chức hành chính của từng quốc gia: + Đô thị cấp quốc gia: thủ đô, thành phố trực thuộc trung ương + Đô thị cấp tỉnh + Đô thị cấp quận, huyện 11 - Ngoài ra còn một số cách thức phân loại đô thị khác như: phân loại theo tiêu chuẩn môi trường(đô thị sạch, đô thị ô nhiễm…); phân loại theo trình độ phát triển; phân loại theo chất lượng cuộc sống… Ở Việt Nam, trước đây dựa vào tiêu chí về quy mô dân số, tác giả Trương Quang Thao (năm 1960) đã phân đô thị thành 6 loại [11, tr.21]: + Thị trấn: dưới 10. + Thành phố trung bình: 50. + Thành phố lớn: 100.
+ Thành phố cực lớn: 200. + Thành phố khổng lồ: trên 500. Khái niệm đô thị hóa Đô thị hóa (ĐTH) là quá trình diễn ra từ rất sớm, từ thế kỷ IV trước CN, giai đoạn này, ĐTH được hiểu một cách đơn giản là quá trình chuyển đổi nông thôn thành đô thị. Còn nếu nói theo một khái niệm chuyên sâu, ĐTH là quá trình nâng cao vai trò, vị trí và chức năng của thành phố hoặc biến đổi chức năng của nông thôn theo sự vận động phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước.
ĐTH là một xu hướng tất yếu của toàn cầu. Quá trình đô thị hóa, gắn liền với sự phát triển của các lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội và được cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy. Đô thị hóa không chỉ là sự phát triển riêng của một đô thị về quy mô và số lượng dân số, mà còn gắn liền với những biến đổi KT - XH và môi trường thiên nhiên của một hệ thống đô thị và phổ biến lối sống thành thị, tập trung dân cư trên lãnh thổ.5] Một khái niệm khác của GS.Nguyễn Thế Bá: “ĐTH là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình ĐTH cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị” [1, tr.
Phạm Thị Xuân Thọ, ĐTH được biểu hiện theo nghĩa rộng với những nội dung sau [16, tr.48]: 12 + Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị) hình thành và phát triển các đô thị mới + Quá trình tập trung các dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn. + Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị theo chiều rộng, chiều cao và chiều sâu + Quá trình phổ biến rộng rãi lối sống đô thị. + Quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị. Những biểu hiện cơ bản của đô thị hóa 1.
Tỷ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh Đây là biểu hiện cơ bản nhất trong quá trình ĐTH, qua các thập kỷ kể từ khi xuất hiện các đô thị cổ đại từ khu vực Tây Nam Á, dân số đô thị trên thế giới luôn không ngừng tăng nhanh. Số lượng đô thị đã và đang tăng lên nhanh chóng cùng với số dân đô thị cũng tăng theo và tập trung cao độ vào các đô thị. Theo Liên Hiệp Quốc, mức độ đô thị hóa trên thế giới năm 2000 là gần 50%, năm 2014 là 53,4% và ước tính đến năm 2050 đạt khoảng 62,5%. Số lượng đô thị lớn đã và đang tăng lên nhanh chóng: + Năm 1950 chỉ có New York là đô thị có số dân trên 10 triệu người trong số 11 thành phố lớn nhất của các nước phát triển.
+ Năm 1970 chỉ có 3: Tokyo, London và New York. Trong số 15 thành phố lớn nhất năm 1970 thì có tới 6 thành phố thuộc các nước đang phát triển + Năm 1994, trong số 15 thành phố lớn nhất thì có 14 thành phố đạt trên 10 triệu dân, thành phố thứ 15 có 9,4 triệu dân. + Hiện nay, trên thế giới có 853 đô thị có dân số trên 500.000 người 13 60 55,71 51,64 50 46,68 43,02 39,34 40 36,56 33,61 30 20 10 0 1960 1970 1980 1990 2000 2010 2019 Nguồn: [8] (Đơn vị: %) Biểu đồ 1. Tỷ lệ dân đô thị trên thế giới Qua biểu đồ 1.