BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM ---------------- TRẦN NGUYỄN THANH HUY ĐỘ NHẠY CẢM DÒNG TIỀN CỦA NẮM GIỮ TIỀN MẶT TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM ---------------- TRẦN NGUYỄN THANH HUY ĐỘ NHẠY CẢM DÒNG TIỀN CỦA NẮM GIỮ TIỀN MẶT TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan luận văn “Độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt tại các công ty niêm yết Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tôi. Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng mọi số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng dưới bất cứ hình thức nào. Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 10 năm 2014 Tác giả Trần Nguyễn Thanh Huy MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục bảng biểu Danh mục hình Tóm tắt (Abstract).
Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây (Literature review).1 Giá trị của nắm giữ tiền mặt .2 Độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt .3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nắm giữ tiền mặt tại các công ty.2 Các giới hạn tài chính .3 Cơ hội tăng trưởng kỳ vọng .4 Đòn bẩy tài chính .5 Quy mô công ty .6 Chi tiêu vốn .7 Chính sách chi trả cổ tức .8 Tài sản có tính thanh khoản thay thế. Phương pháp nghiên cứu (Methodology and data) .1 Xây dựng giả thuyết .2 Phương pháp nghiên cứu .1 Mô hình tổng quát .2 Các hạn chế tài chính và sự bất đối xứng dòng tiền của nắm giữ tiền mặt. Sự kiểm soát của chi phí đại diện .3 Phương pháp hồi quy.1 Phương pháp hồi quy Pooled OLS, FEM và REM .2 Phương pháp hồi quy GMM bậc cao. Nội dung và các kết quả nghiên cứu (Results) .1 Thống kê mô tả dữ liệu.2 Độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt .3 Sự bất cân xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt trong điều kiện hạn chế tài chính.
Sự bất cân xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt trong xem xét tác động của chi phí đại diện.58 Tài liệu tham khảo Phụ Lục DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HOSE : Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh HNX : Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội UPCoM : Sàn giao dịch Chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết Pooled OLS : Phương pháp hồi quy “gộp” GMM4 : Phương pháp hồi quy moment tổng quát bậc cao – bậc 4 REM : Phương pháp ước lượng hiệu ứng ngẫu nhiên FEM : Phương pháp ước lượng hiệu ứng cố định NPV : Giá trị hiện tại thuần M&A : Mua bán và sáp nhập DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 4.1 : Thống kê mô tả các biến .2 : Thống kê mô tả giữa hai nhóm công ty bị hạn chế tài chính và không bị hạn chế được phân chia theo tiêu chí chi trả cổ tức .3 : Tương quan Pearson và Spearman .4 : Kết quả hồi quy mô hình (1) bằng phương pháp Pooled OLS, FEM, REM .5 : Sự bất cân xứng độ nhạy cảm của nắm giữ tiền mặt .6 : Thống kê mô tả lượng tiền mặt nắm giữ giữa hai nhóm công ty .7 : Sự bất đối xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt–xét trên các tiêu chí hạn chế tài chính .8 : Sự bất đối xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt–xem xét tác động của vấn đề chi phí đại diện. 55 DANH MỤC HÌNH Hình 4.1: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến VIF.2 : Kết quả kiểm định Breusch & Pagan Lagrangian .3 : Kết quả kiểm định Hausman .45 1 Tóm tắt (Abstract) Nghiên cứu của Dichu Bao và cộng sự (2012) thể hiện độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt nhìn chung tiêu cực. Kết quả này đã ủng hộ nghiên cứu trước đó của Riddick and Whited (2009). Thêm vào đó, Dichu Bao và cộng sự (2012) phát hiện rằng độ nhạy cảm là bất cân xứng.
Bởi vì, khi các công ty đối mặt với môi trường dòng tiền dương, độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt là tiêu cực nhưng khi công ty phải đối mặt với dòng tiền âm thì độ nhạy cảm này không nhất thiết tiêu cực. Dựa trên nền tảng lý thuyết và mô hình thực nghiệm của Dichu Bao và cộng sự (2012), bài nghiên cứu đã kiểm tra cụ thể độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt tại các công ty niêm yết Việt Nam. Sử dụng kết hợp các phương pháp hồi quy Pooled OLS, REM, FEM và phương pháp hồi quy GMM bậc cao – bậc 4 theo nghiên cứu của Erickson và Whited (2000) nhằm khảo sát mẫu 213 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch HOSE và HNX giai đoạn 2008-2013. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định lại kết luận của Dichu Bao và cộng sự (2012) khi ghi nhận tồn tại sự bất cân xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt tại các công ty niêm yết Việt Nam.
Tiếp theo đó, tôi phân chia mẫu thành các công ty bị hạn chế tài chính và không bị hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy sự bất cân xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt tiếp tục giữ vững ở cả hai nhóm. Tất cả các kết quả đã hỗ trợ giả thuyết của tôi rằng các công ty tại Việt Nam có các mức độ phản ứng khác nhau trong vấn đề nắm giữ tiền mặt khi phải đối mặt với dòng tiền dương và âm. Cuối cùng, bài nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các cổ đông tổ chức nhằm kiểm soát vấn đề chi phí đại diện như là một trong các nguyên nhân gây nên sự bất cân xứng theo lý giải của nghiên cứu Dichu Bao và cộng sự.
Tuy nhiên, bài nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng cho thấy vấn đề chi phí đại diện tác động đến sự bất cân xứng độ nhạy cảm dòng tiền của nắm giữ tiền mặt đối với các công ty tại Việt Nam. Giới thiệu (Introduction) Theo nghiên cứu của Opler và cộng sự (1999), tại điểm mà chi phí biên và lợi ích biên của việc đầu tư vào tiền mặt là bằng nhau thì công ty sẽ đạt được mức tiền mặt tối ưu. Tuy nhiên cũng theo các nghiên cứu thì việc công ty nắm giữ lượng lớn tiền mặt và các khoản tương đương tiền là không hiệu quả bởi vì nó tạo ra các khoản chi phí khi nắm giữ tiền mặt. Keynes (1936) cho rằng có hai loại chi phí khi nắm giữ tiền mặt bao gồm chi phí nắm giữ và chi phí cơ hội, chúng tồn tại song song với ba động cơ đó là động cơ giao dịch, phòng ngừa và đầu cơ.
Quan điểm về động cơ giao dịch cho rằng nhu cầu về tiền mặt như một hàm của chi phí giao dịch liên quan đến việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt (Miller và Orr, 1966). Bên cạnh đó dưới tác động của nhân tố thuế khi các công ty đa quốc gia hồi hương các nguồn thu nhập từ nước ngoài dẫn đến các công ty có xu hướng nắm giữ tiền mặt cao (Foley và cộng sự, 2007). Ngoài ra, trên thực tế thì hiện nay tại Việt Nam, nhiều công ty lựa chọn việc nắm giữ một lượng lớn tiền mặt nhằm tránh các thiệt hại khi công ty phải đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính có thể dẫn đến phá sản. Đặc biệt trong các năm gần đây, trước tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã dẫn đến việc công ty khó tiếp cận với các nguồn tài trợ từ bên ngoài.
Khi các nguồn tài chính từ bên ngoài trở nên tốn kém chính là động lực để các công ty xây dựng chính sách nắm giữ tiền mặt (Financial slack) bằng việc tăng tích trữ tiền mặt để tránh những hậu quả bất lợi liên quan với các cú sốc đến thu nhập. Tiền mặt đã đóng vai trò như một tấm đệm nhằm giúp công ty đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính. Nghiên cứu của Bates và cộng sự (2009) cho rằng các công ty gia tăng tiền mặt cho các nhu cầu thanh khoản ngày càng tăng để nhằm tạo nên tấm đệm chống lại các cú sốc dòng tiền. Theo quan điểm về động cơ đầu cơ, các doanh nghiệp có nguồn nội lực lớn có nhiều khả năng để có thể đầu tư vào mức độ đầu tư tốt nhất đầu tiên (the first-best level) trong tương lai mà không cần đến các tài trợ từ bên ngoài.
Công ty với nhiều cơ hội đầu tư ở hiện tại và tương lai và các công ty có những dòng tiền tạo ra từ tài 3 sản không đủ để đầu tư vào tất cả các dự án có NPV dương thì nắm giữ tiền mặt sẽ đảm bảo khả năng đầu tư của công ty (Almeida và cộng sự, 2004). Mặt khác, phụ thuộc vào khả năng của công ty để gia tăng huy động vốn bên ngoài, nắm giữ tiền mặt có thể tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trong tương lai. Ngoài ba động cơ của việc nắm giữ tiền mặt theo Keynes, các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy sự hiện diện của các nhân tố khác. Mục đích đa dạng hóa cấu trúc vốn nhằm làm giảm ảnh hưởng của các mâu thuẫn tài chính (Financing frictions) từ đó làm giảm lợi ích biên của nắm giữ tiền mặt (Subramaniam và cộng sự, 2011).
Ngoài ra, Ang và Smedema (2011) tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng đối với những công ty có ít các hạn chế tài chính hoặc với lượng tiền mặt dồi dào trước đó thì các công ty này sẽ xây dựng chính sách nắm giữ tiền mặt phụ thuộc vào các dự đoán vào một cuộc suy thoái trong tương lai. Chi phí đại diện và mối đe dọa tước quyền sở hữu cũng là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc nắm giữ tiền mặt. Bằng chứng trong các nghiên cứu thực nghiệm của Harford (1999); Dittmar và Mahrt - Smith (2007); Harford và cộng sự (2008) cho thấy rằng các nhà quản lý cố thủ có xu hướng xây dựng lượng tiền mặt cân bằng, nhưng sau đó lại chi tiêu tiền mặt dư thừa một cách nhanh chóng. Điều này phụ hợp với kết quả nghiên cứu về dòng tiền tự do của Jensen (1986).