CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC DẠY HỌC CÓ ỨNG DỤNG TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THỰC TẾ TĂNG CƯỜNG TỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP 1. Toán học và một số yếu tố tác động tới kết quả học tập môn Toán Sự phát triển nhanh chóng của thông tin và công nghệ ngày nay đã làm thay đổi góc nhìn của xã hội đối với giáo dục, nhất là đối với Toán học. Umameh (2011) cho rằng toán học là nền tảng và là công cụ không thể thiếu cho tiến bộ khoa học, công nghệ và kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Mefor (2014) khẳng định Toán học liên quan đến mọi thứ trong vũ trụ này từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất.
Xã hội ngày nay mong đợi các GV Toán học có thể dạy được HS khả năng tạo ra các giải pháp hiệu quả cho các vấn đề thực tế, đồng thời sử dụng Toán học một cách hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày. Trong nhà trường, Toán học được coi là một môn học quan trọng. Việc thành thạo các kỹ năng toán học cơ bản là một bước cần thiết để chuẩn bị cho các cấp học cao hơn trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, từ đó góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế quốc gia (Kärkkäinen và Vincent- Lancrin, 2013). Theo nhận định của Doruk và Umay (2011) thay vì sợ hãi Toán học, HS cần được yêu thích toán ngay từ đầu và hiểu được tầm quan trọng cũng như sức mạnh của Toán học.
Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam 2018 được xây dựng trên tinh thần Toán học cho mọi người, ai cũng có thể học được Toán. Đồng thời chương trình còn nhấn mạnh việc học Toán gắn liền với sở thích và năng lực của mỗi cá nhân. Ở cấp độ tiểu học đặc biệt với khối lớp 1, Môn Toán chỉ yêu cầu HS thực hiện được các thao tác tư duy cơ bản từ đó giải quyết được các vấn đề cơ bản trong học tập cũng như đời sống hàng ngày. Chương trình cũng nhấn mạnh về việc sử dụng được ngôn ngữ toán học, ngôn ngữ thông thường cũng như các động tác hình thể để diễn đạt các nội dung toán học ở những tình huống 8 đơn giản.
Các công trình nghiên cứu của Dreger và Aiken (1957) hay Tulock (1957) đều chỉ ra rằng kết quả học tập Toán học bị ảnh hưởng bởi các yếu tố phi trí tuệ. Điều đó thể hiện được rằng bên cạnh những yêu cầu về kiến thức, Toán học đối với khối lớp 1 còn cần đề cao tới những yếu tố phi trí tuệ khác như động cơ học tập và sự gắn kết của HS. Động cơ học tập Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng động cơ học tập là nền tảng trong việc nâng cao kết quả học tập của HS (Park và Yun, 2018). Pintrich (1999) cho rằng động cơ học tập là yếu tố cần thiết để nâng cao hiệu quả học tập.
Nhiều chuyên gia tâm lý học đã đưa ra định nghĩa về động cơ học tập. Theo Santrock (2011) động cơ là quá trình cung cấp năng lượng, định hướng và duy trì hành vi. Điều đó hàm ý rằng động cơ là quá trình thúc đẩy HS làm điều gì đó và tiếp tục thực hiện điều đó (Elliot và Covington, 2001). Woolfolk (2007) lại nhìn nhận động cơ như một trạng thái bên trong, khơi dậy và định hướng, duy trì hành vi.
Schunk và cộng sự (2008) cũng nói rằng động cơ là quá trình nhờ đó hoạt động của HS hướng đến mục tiêu và hoạt động đó được thúc đẩy và duy trì. Weiner (1990) đã lưu ý rằng động cơ thường được suy ra từ việc học, và việc học thường là một chỉ số về động cơ đối với nhà tâm lý học giáo dục. Động cơ được phân loại thành hai loại: động cơ bên trong và động cơ bên ngoài. Để hiểu rõ hơn về động cơ bên ngoài, cần biết một số lý thuyết được các chuyên gia nêu ra.
Theo Santrock (2011), động cơ bên ngoài là "động cơ liên quan đến việc làm một việc gì đó để đạt được một điều gì đó khác." Động cơ bên ngoài thường bị ảnh hưởng bởi các động cơ bên ngoài như phần thưởng và hình phạt. Ví dụ, nhiều HS tập trung học tập vì hướng tới những bài kiểm tra đạt điểm cao. Điều kiện chịu ảnh hưởng bên ngoài có thể tác động đến động cơ của cá nhân và những ảnh hưởng này có thể là phần thưởng hoặc hình phạt. Theo Santrock (2011) động cơ bên trong đề cập đến động cơ để làm điều gì 9 đó vì lợi ích của chính nó.
Ví dụ, một HS tập trung học vì HS thích bài học đó. Điều này có nghĩa là động cơ bên trong đến từ bên trong cá nhân. Alderman (2013) cũng định nghĩa động cơ bên trong là “HS tham gia vào các hoạt động vì lợi ích của chính họ và không có sự ép buộc bên ngoài như sự hài lòng, hứng thú, học hỏi và thử thách”. Với động cơ bên trong, HS không cần phải bị ép buộc làm điều gì đó.
Tuy rằng cần có nhiều nghiên cứu về cảm xúc của HS liên quan đến động cơ học tập bên trong và cả bên ngoài; nhưng các trạng thái cảm xúc như sự tò mò, vui vẻ đã được chứng minh là có tương quan tích cực với kết quả học tập. Trong khi đó, các trạng thái tiêu cực như thất vọng và buồn chán đi cùng với kết quả học tập kém. Động cơ học tập của HS cũng đã được chứng minh là nền tảng trong việc nâng cao kết quả học tập với môi trường học tập dựa trên máy tính (Sabourin & Lester, 2014). Năm 1983, Keller đã đề xuất mô hình động lực ARCS (Sự chú ý, mức độ liên quan, sự tự tin và mức độ thỏa mãn) để mô tả động cơ học tập của HS.
Keller nhấn mạnh rằng nếu bài học không khơi dậy sự chú ý của HS, thì kết quả học tập sẽ bị ảnh hưởng. Dưới đây tác giả sẽ đi sâu làm rõ mức độ quan trọng của sự tự tin đối với việc học tập môn toán. Chương trình giáo dục phổ thông nhấn mạnh HS cần “Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, nêu câu hỏi, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng liên quan đến toán học”. Theo Rubio (2007), định nghĩa về sự tự tin được công nhận rộng rãi nhất là cảm giác về năng lực bản thân cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản trong cuộc sống và cảm thấy hạnh phúc.
Tự tin có nghĩa là sự tự đánh giá và lòng tự trọng của một cá nhân (Annissa và Hacene, 2011). Sự tự tin là một cảm giác mà mỗi cá nhân có từ thời thơ ấu có liên quan tới năng lực của cá nhân đó (Mutluer, 2006). Dựa trên những định nghĩa này, sự tự tin có thể được coi là một nhận thức của con người đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người như hạnh phúc và thành công. M Esentas cùng đồng nghiệp 10 (2015) định nghĩa sự tự tin là sự thừa nhận của một cá nhân về khả năng của chính họ, lòng yêu bản thân và nhận thức về các biểu tượng cảm xúc của chính họ.
Họ đồng tình với việc chia sự tự tin thành hai loại: + Sự tự tin bên trong đề cập đến những suy nghĩ và cảm xúc của một cá nhân về cách họ hài lòng với bản thân. Lòng tự trọng, yêu bản thân, tự nhận thức, đặt mục tiêu cụ thể và suy nghĩ tích cực là những yếu tố của sự tự tin bên trong. + Sự tự tin bên ngoài đề cập đến những hành vi và thái độ đối với người khác. Các yếu tố tạo nên sự tự tin bên ngoài bao gồm khả năng giao tiếp và kiểm soát cảm xúc.
Những HS có kết quả học tập môn toán thấp có liên quan đến mức độ tự tin thấp của những HS đó. Sự tự tin là điều bắt buộc trong học tập (Villalon, 2016). Sự tự tin của HS là một yếu tố dự đoán kết quả của người học và đã được sử dụng để diễn giải mức độ nỗ lực đạt được thành tích toán học. Sự giảm sút tự tin sẽ gây ra những hậu quả trong học tập và tác động đến sự dè dặt của HS về khả năng thành thạo toán học.
Sự gắn kết lớp học Sự gắn kết của HS là một cấu trúc rộng và đa chiều, bao gồm sự cam kết và tham gia của HS đối với các hoạt động học tập. Một số nhà nghiên cứu đã khái niệm hóa sự gắn kết của sinh viên với ba khía cạnh riêng biệt: nhận thức; hành vi; và tình cảm (Appleton và cộng sự, 2006). + Sự gắn kết lớp học về nhận thức có thể được định nghĩa là sự sẵn sàng nỗ lực của HS để hiểu những ý tưởng phức tạp và học các kỹ năng khó (Fredricks và cộng sự, 2004). + Sự gắn kết về hành vi có thể được định nghĩa là sự tham gia vào các hoạt động học tập, và nó đã được chứng minh là rất quan trọng ảnh hưởng tới kết quả học tập (Fredricks và cộng sự, 2004).
Sự gắn kết về hành vi này dễ quan sát hơn và dễ 11 đo lường hơn, khiến nó trở thành thành phần phổ biến nhất được nghiên cứu (Appleton và cộng sự, 2008). Fredricks và các đồng nghiệp (2004) đã thấy mối quan hệ rất chặt giữa sự gắn kết lớp học về hành vi và kết quả học tập trên nhiều mẫu và lứa tuổi. + Sự gắn kết về cảm xúc có thể được định nghĩa là nhận thức của HS về khả năng học tập của họ và khả năng đánh giá niềm tin của họ về việc thành công trong môi trường học thuật (Reschly và cộng sự, 2014). Appleton và cộng sự năm 2008 đã chỉ ra một số cấu trúc liên quan đến sự gắn kết cảm xúc bao gồm: (a) thái độ của HS về trường học; (b) phản ứng tình cảm của họ trong lớp học; (c) cảm giác thân thuộc của họ; (d) cách họ xác định với trường học; (e) kết nối trường học; (f) lợi ích và giá trị của họ; và (g) phản ứng tích cực và tiêu cực của họ đối với trường học, bạn bè, GV và học thuật.
Sự gắn kết về cảm xúc có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các khía cạnh khác của yếu tố gắn kết của HS và kết quả học tập (Finn và Zimmer, 2012). Sự gắn kết của HS ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của HS đã được chỉ ra từ sớm trong bài nghiên cứu của FM Newmann cùng các cộng sự (1992).