Đặt vấn đề Quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”[6]. Luật Đất đai 2003 đã dành 10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp [9]. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, nhiều địa phương trong cả nước đã nghiêm túc tổ chức triển khai công tác này.
Đến nay, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (100%), 505/753 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (67%) và 6.588 xã, phường, thị trấn (54,5%) hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất. Nhiều địa phương đã và đang triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu giai đoạn 2011-2015 [3]. Thực hiện Luật Đất đai 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tỉnh Tuyên Quang đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006.
Đến nay đã là năm cuối của kỳ quy hoạch cần có những nghiên cứu, đánh giá, nhìn nhận lại một cách toàn diện hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất, đồng thời chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu giai đoạn 2011-2015; đảm bảo cho quỹ đất đai của tỉnh Tuyên Quang được quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả và bền vững. n 11 Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá việc quản lý và thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của tỉnh Tuyên Quang” là cần thiết. Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá việc quản lí và thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của tỉnh Tuyên Quang để thấy được những việc đã làm tốt trong công tác quản lí và thực hiện quy hoạch cũng như những việc chưa làm được đúng trong công tác này của tỉnh Tuyên Quang, đồng thời chỉ ra những khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp khắc phục.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được việc quản lí quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-1010 của tỉnh Tuyên Quang; - Đánh giá được việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-1010 của tỉnh Tuyên Quang; - Đánh giá được hiệu quả của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-1010 của tỉnh Tuyên Quang. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá phải chính xác, khách quan; - Đánh giá theo nhiều góc độ khác nhau: theo sự chu chuyển các loại đất, theo thời gian; theo số liệu thứ cấp, theo số liệu sơ cấp; - Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài 4. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Góp phần bổ sung kiến thức về cơ sở lý luận quy hoạch; quản lý quy hoạch nâng cao nhận thức về nội dung, phương pháp đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp tỉnh.
- Tạo lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực thi quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp tỉnh trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất của nước ta. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các nhà quản lý ở tỉnh Tuyên Quang nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Tuyên Quang. n 13 Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lý luận của đề tài Việc đánh giá, tổng kết một nội dung công việc cụ thể được thực hiện ở giai đoạn trước là thực sự cần thiết. Bởi vì, tổng kết và đánh giá mặt đạt được và mặt còn hạn chế cho phép chúng ta rút ra kinh nghiệm và đề ra những mục tiêu, kế hoạch để tiếp tục thực hiện trong thời gian tiếp theo đảm bảo tính hiệu quả và sát với thực tế. Trong quản lí đất đai cũng vậy, khi lập quy hoạch sử dụng đất phải đánh giá việc quản lí và thực hiện quy hoạch ở giai đoạn trước. Hơn nữa, quy hoạch sử dụng đất là việc sắp xếp, phân bổ quỹ đất cho tương lai nên khó có thể thực hiện được đúng tất cả theo phương án quy hoạch đã xây dựng.
Vì vậy, phải tiến hành đánh giá công tác quản lí và thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Cơ sở thực tiễn của đề tài Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004. Việc đánh giá công tác quản lý và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được báo cáo định kỳ hàng năm. Tổng kết công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho giai đoạn tiếp theo.
Tuyên Quang là một tỉnh đang trên đà phát triển, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã xác định thời kỳ 2006 - 2010, tỉnh đặc biệt chú trọng đến việc phát triển công nghiệp – dịch vụ, hạ tầng cơ sơ, phấn đấu đưa thị xã Tuyên Quang trở thành đô thị loại III và thành phố trực thuộc tỉnh. Điều này cho thấy việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt trở nên khó khăn và nhiều thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của toàn Đảng, toàn dân tộc tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của tỉnh Tuyên Quang là hết sức cần thiết. Cơ sở pháp lí của đề tài Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, tại điều 18, chương II đã khẳng định ‘‘Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm n 14 bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả.
Nhà nước giao đất đai cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài’’[6]. Điều 13, Luật Đất đai năm 1993 nêu rõ: Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Điều 6, Luật Đất đai năm 2003 ghi nhận: Quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Điều 19 Luật đất đai 2003 khẳng định: “Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”.
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Quyết định số 100/2008/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 04/2006/BT-NMT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Các báo cáo và quy hoạch của các ngành ở trung ương có liên quan đến tỉnh Tuyên Quang; Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 26/5/2006; Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực của tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. KHÁI QUÁT VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất n 15 Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là điều kiện vật chất chung đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động.
Vì vậy đất đai là “tư liệu sản xuất đặc biệt” không gì thay thế được. Có nhiều quan điểm về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Docutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và thời gian. Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển. Theo Fresco và ctv (1992), Quy hoạch sử dụng đất như dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng đất tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu và những cơ hội về môi trường xã hội và những vấn đề hạn chế khác.
Lê Quang Trí (2005). Theo Nguyễn Đình Thi (2003): “Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế - kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiệm bảo vệ đất đai và môi trường. Đây là hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất đặc thù.