BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN THANH TÍNH ĐÁNH GIÁ ỔN ĐỊNH ĐỘNG HỆ THỐNG ĐIỆN SỬ DỤNG MẠNG NƠ RON CẢI TIẾN NGÀNH: KỸ THUẬT ĐIỆN - 60520202 S K C0 0 5 2 0 2 Tp. Hồ Chí Minh, tháng 04/2016 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD:PGS.TS Quyền Huy Ánh Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu 1. Thực trạng hệ thống điện Hệ thống điện (HTĐ) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia vì nó là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân.
HTĐ thƣờng phân chia thành ba phần chính: Phần phát điện bao gồm các nhà máy phát điện nhƣ: nhiệt điện chạy than, nhiệt điện chạy khí, nhà máy thủy điện, nhà máy điện hạt nhân, và một số loại máy phát điện khác. Với phần truyền tải, đây có thể đƣợc coi là hệ thống xƣơng sống của một HTĐ, bao gồm các đƣờng dây siêu cao áp, cao áp và máy biến áp truyền tải. Phần phân phối, nơi điện áp đƣợc hạ thấp để cung cấp trực tiếp cho các phụ tải. Đây cũng là phần có nhiều nút và có chiều dài lƣới lớn nhất trong HTĐ với nhiều loại phụ tải khác nhau.
Để đảm bảo cho HTĐ vận hành ở chế độ bình thƣờng thì HTĐ cần thoả mãn các điều kiện về ổn định, tin cậy, đảm bảo chất lƣợng điện năng và yêu cầu về kinh tế. Tuy nhiên, HTĐ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nƣớc phát triển trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức: + Thứ nhất là sự tăng trƣởng quá nhanh của phụ tải, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, tỉ lệ tăng trƣởng phụ tải khoảng 15-20% mỗi năm đang đặt ra thách thức lớn cho ngành điện phải đáp ứng kịp thời nhu cầu của phụ tải. + Thứ hai là sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên nhƣ than đá, dầu mỏ, khí đốt và nguồn nƣớc làm cho việc phát triển các loại nhà máy phát điện mới ngày càng bị giới hạn. Việt Nam và các nƣớc trên thế giới đều nhận thức rằng chúng ta đang phải đối mặt với sự cạn kiệt năng lƣợng sơ cấp và giá nhiên liệu ngày càng tăng trên bình diện quốc tế.
Năng lƣợng thủy điện là nguồn năng lƣợng giá rẻ, kinh tế và an toàn nhất cũng đang dần cạn kiệt vì đã đƣợc phát hiện và khai thác gần hết. Việc ứng dụng công nghệ hạt nhân trong sản xuất điện đã phổ biến ở nhiều nƣớc trên thế giới HVTH: Nguyễn Thanh Tính trang 1 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD:PGS.TS Quyền Huy Ánh nhƣng ở nƣớc ta vẫn còn là nguồn năng lƣợng mới lạ do vấn đề về công nghệ, sự lo ngại về an toàn, nguồn cung cấp nhiên liệu, vốn đầu tƣ lớn và đặc biệt là vấn đề môi trƣờng khi sự cố xảy ra. + Thứ ba là sự xuất hiện và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn năng lƣợng tái tạo nhƣ nguồn năng lƣợng gió, năng lƣợng mặt trời. các nguồn năng lƣợng phân tán này cũng góp phần giảm thiểu gánh nặng cho ngành điện, đáp ứng một phần nhu cầu phụ tải đang gia tăng, làm giảm tổn thất, tiết kiệm chi phí trong truyền tải và phân phối điện.
Cùng với sự xuất hiện của các thiết bị điện tử công suất cả ở phần truyền tải và phân phối điện đã làm thay đổi căn bản khái niệm về HTĐ truyền thống, làm khó khăn hơn trong quản lý, vận hành, giám sát và điều khiển HTĐ. Việc đảm bảo chất lƣợng điện năng, tính liên tục cung cấp điện đang là thách thức lớn đặt ra với ngành điện. Một số sự cố lớn gần đây ở Việt Nam và trên thế giới đã gây ra những hậu quả to lớn về kinh tế và nguy cơ rã lƣới toàn bộ hệ thống do mất ổn định HTĐ càng trở nên hiện hữu. Trong khi việc đánh giá ổn định động cho những HTĐ phức tạp thực sự là một vấn đề khó khăn, đặc biệt khi xét hệ thống vận hành trong thời gian thực.
Do đó, vấn đề nghiên cứu ổn định động HTĐ đang là nhiệm vụ cấp thiết. Lý do chọn đề tài Đánh giá ổn định động của hệ thống điện là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong quá trình thiết kế và vận hành hệ thống điện. Năm 1920, ổn định động của hệ thống điện lần đầu tiên đƣợc chú ý đến nhƣ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc thiết kế và vận hành khi các hệ thống điện nhỏ đƣợc nối kết với nhau thành một hệ thống lớn. Qua hơn 50 năm, với nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới cùng với sự phát triển của công nghệ bán dẫn và công nghệ thông tin, lý thuyết cũng nhƣ những công cụ phân tích và đánh giá ổn định động của hệ thống điện đã cơ bản hình thành.
Tuy vậy, từ năm 1990 do yêu cầu điện năng tăng vƣợt bậc, nhiều hệ thống điện lớn liên kết các hệ thống điện giữa các vùng của một quốc gia hoặc giữa nhiều quốc gia nhƣ hệ thống điện 500 kV HVTH: Nguyễn Thanh Tính trang 2 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD:PGS.TS Quyền Huy Ánh Việt Nam, hệ thống điện Bắc Mỹ đã hình thành. Việc đánh giá ổn định động cho những hệ thống điện phức tạp này là một trong những vấn đề khó khăn, đặc biệt khi xét hệ thống vận hành trong thời gian thực. Để đánh giá hệ thống ổn định hay không ổn định sau sự cố lớn, có nhiều phƣơng pháp đƣợc áp dụng. Phƣơng pháp mô phỏng theo miền thời gian cho kết quả chính xác để đánh giá ổn định quá độ hệ thống điện nhƣng không cho biết biên ổn định của hệ thống, tốn nhiều thời gian do phải giải hệ phƣơng trình vi phân phi tuyến sau sự cố [4,9,8,10], cho nên không phù hợp trong đánh giá trực tuyến.
Phƣơng pháp này cũng không cung cấp thông tin mức độ ổn định hoặc không ổn định [4,5,7]. Phƣơng pháp số cho câu trả lời chính xác về ổn định quá độ hệ thống điện, nhƣng gặp khó khăn trong giải phƣơng trình vi phân bậc 2, và mất nhiều thời gian giải [15]. Phƣơng pháp hàm năng lƣợng xác định ổn định hệ thống điện dựa trên hàm năng lƣợng, tránh việc giải từng bƣớc nhƣ phƣơng pháp mô phỏng theo miền thời gian, tuy nhiên ứng dụng thực tế vẫn còn tiếp tục nghiên cứu, nguyên do chính là đối với hệ thống điện lớn nhiều máy phát cần phải đơn giản hóa mô hình [6,22], cần nhiều tính toán để xác định chỉ số ổn định [14,4,24]. Nhƣ vậy, các phƣơng pháp truyền thống tốn rất nhiều thời gian tính toán, không phù hợp đánh giá trong thời gian thực, với yêu cầu rất khắc khe về thời gian tính toán, tính nhanh nhƣng phải chính xác đã xuất hiện nhu cầu ứng dụng phƣơng pháp khác hiệu quả hơn.
Phƣơng pháp kỹ thuật nhận dạng mẫu áp dụng đánh giá ổn định động hệ thống điện bỏ qua giải tích và thay thế bằng cách học quan hệ mẫu đầu vào và đầu ra [10], các tiếp cận theo hƣớng này [10,11] thì bộ phân loại đƣợc huấn luyện off-line và kiểm tra on-line. Trong [12], tác giả chọn tín hiệu đầu vào là các biến đặc trƣng chế độ xác lập tiền sự cố để chẩn đoán sự cố qua chỉ số thời gian cắt tới hạn (CCT – Critical Clearing Time), tuy nhiên tìm mối liên hệ giữa các biến đặc trƣng trạng thái xác lập và cấp ổn định cũng là một thách thức. HVTH: Nguyễn Thanh Tính trang 3 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD:PGS.TS Quyền Huy Ánh Hệ thống nhận dạng mẫu cầ n các mẫu thông tin đặc trƣng quan trọng làm mẫu dữ liệu đầu vào, việc trích xuất giảm biến đặc trƣng giúp cho hệ thống xử lý dữ liệu một cách nhanh chóng và nâng cao độ chính xác. Kỹ thuật nhận dạng rất tốt cho bài toán tách biệt tuyến tính giữa các lớp, nhƣng tách biệt giữa các lớp phi tuyến chƣa thực hiện đƣợc [18].
Vẫn còn đó thách thức cho nhà nghiên cứu trong tìm mối liên hệ giữa các biến trạng thái xác lập tiền sự cố và cấp ổn định hệ thống điện, việc giảm biến đặc trƣng nhƣng phải nâng cao độ chính xác dự báo. Mạng nơ ron nhân tạo (ANN – Artificial Neural Network) là một trong các phƣơng pháp tiếp cận đánh giá ổn định hệ thống điện thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu do khả năng học hỏi nhanh chóng quan hệ phi tuyến vào/ ra. Bài báo [16,13,21] ứng dụng (MLPNN - Multilayer Perceptron Neural Network) để ƣớc lƣợng biên ổn định quá độ hệ thống điện. Trong chẩn đoán ổn định động có 2 giai đoạn.
Một là chẩn đoán dựa vào biến đặc trƣng tiền sự cố ở trạng thái xác lập gồm công suất máy phát, công suất đƣờng dây, điện áp bus,. chẩn đoán này mang tính dự phòng ngăn chặn tích cực sớm, vấn đề này áp dụng trong [14,17,20,23,28]. Hai là, chẩn đoán ổn định động dựa vào biến đặc trƣng sau sự cố nhƣ chỉ số mức độ nghiêm trọng, góc , quỹ đạo điện áp,. trong chẩn đoán này cho biết trạng thái ổn định sắp tới của hệ thống điện do sự cố gây ra.
Trong [25], tác giả kết hợp mạng nơ ron và logic mờ có khả năng tự học và học liên tục, [27] kết hợp phƣơng pháp truyền thống với mạng nơ ron để tăng độ chính xác chẩn đoán. Trong đánh giá ổn định động đƣợc chia làm hai loại chính là chẩn đoán và đánh giá. Chẩn đoán ổn định động thƣờng tập trung vào chỉ số CCT của hệ thống đối với sự cố, CCT là thời gian cắt sự cố dài nhất cho phép để hệ thống vẫn giữ ổn định ứng với góc công suất cắt chuẩn, và 3 giai đoạn sự cố mà hệ thống điện trải qua: trƣớc sự cố, đang sự cố và sau sự cố. Trong đánh giá ổn định động, không cần quan tâm CCT mà cần quan sát quá trình quá độ xảy ra khi gặp sự cố, câu hỏi mấu chốt trong đánh giá ổn định động là sau dao động quá độ kết quả là hệ thống điện ổn định hay HVTH: Nguyễn Thanh Tính trang 4 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD:PGS.TS Quyền Huy Ánh không ổn định [19,26], bài toán chẩn đoán ổn định quá độ thƣờng xem xét quá trình trƣớc sự cố và sau sự cố, chẩn đoán ổn định qua xác định góc đồng bộ và thời gian từ lúc dao động đầu tiên.