Chương 1 GIỚI THIỆU Phần lớn các nước ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đang phụ thuộc khá nhiều vào các nguồn nhiệt điện, thủy điện. Tuy nhiên, tồn tại một thực trạng đó là nguồn nước dần khan hiếm, chặt cây phá rừng đầu nguồn gây ra lũ lụt thiên tai, vấn đề ô nhiễm môi trường từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện trong khi nhu cầu năng lượng ở các quốc gia trong khu vực này ngày càng gia tăng, điển hình là Việt Nam dự báo đến năm 2025 sẽ bị thiếu hụt nguồn cung cấp. Hiện nay, thị trường năng lượng tái tạo đang nhận được sự quan tâm ngày càng đông đảo từ các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, trong đó năng lượng điện gió là một trong những ngành mới nổi và phát triển nhanh nhất trên thế giới. Ngành năng lượng gió là một thành phần quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn năng lượng bền vững và là động lực chính cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn cung ứng.
Theo sau sự phát triển của ngành năng lượng gió là các chính sách khuyến khích của chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập của điện gió sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của hệ thống điện Việt Nam. Lượng công suất giải tỏa từ các nhà máy điện gió vào lưới điện ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn điện. Đây được xem là nguồn năng lượng có tiềm năng rất lớn và không gây ra ô nhiễm môi trường.
Nhưng hạn chế lớn nhất đó là các nhà máy điện gió thường phát công suất không liên tục, độ biến thiên sản lượng điện đầu ra khá lớn và không phụ thuộc vào nhu cầu tiêu thụ của phụ tải hay mùa trong năm. Trước đây, ảnh hưởng của nguồn năng lượng gió vào hệ thống điện có thể được bỏ qua do lượng công suất lắp đặt tương đối thấp. Tuy nhiên, với lượng công suất lắp đặt ngày càng tăng cao dẫn đến sự phân bố công suất trên đường dây truyền tải và quán tính của toàn hệ thống sẽ bị thay đổi khá nhiều sau khi các trang trại gió được kết nối. Ngoài ra, những nơi có vận tốc gió cao thường khá xa trung tâm phụ tải và khu thương mại, dẫn đến việc bắt buộc truyền tải công suất đi xa gây ra một số vấn đề về chất lượng điện áp, tần số và khả năng phục hồi của nhà máy khi hệ thống điện xảy ra biến động.
Theo truyền thống, nguồn điện gió được xem là nguồn phát điện nhỏ, các tuabin gió được phép ngắt khỏi trang trại gió khi hệ thống điện gặp sự cố, điều này không yêu cầu tuabin gió tham gia vào việc kiểm soát tần số và việc ngắt kết nối của tuabin được xem là không đáng kể đến tổn thất công suất phát và độ ổn định hệ thống điện. Thời gian gần đây, sự thâm nhập của năng lượng gió đã tăng lên đáng kể, đặc biệt ở một số quốc gia như Đan Mạch, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, v. Khi sự hiện diện của nguồn điện gió ngày càng trở nên quan trọng đối với hệ thống điện thì tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng cũng như an ninh vận hành hệ thống điện phải được xem xét. Do đó, việc sản xuất điện từ nguồn năng lượng gió bắt buộc phải có độ tin cậy trong việc cung cấp và mức độ ổn định.
Điều đó đòi hỏi các nhà vận hành lưới điện bắt đầu đưa ra các “grid code” cho nguồn năng lượng gió. Để đáp ứng các “grid code” này, nhà sản xuất tuabin gió phải cung Luận văn thạc sĩ Trang 1 Phân tích đánh giá ổn định động của HTĐ khi có tác động của nguồn năng lượng điện gió GVHD: PGS. TS Võ Ngọc Điều cấp các sản phẩm có tính năng đáp ứng yêu cầu của lưới điện. Những yêu cầu cơ bản liên quan mật thiết đến grid code, đó là khả năng vượt qua sự cố (Fault ride through) và khả năng vượt qua điện áp thấp (Low voltage ride through) của tuabin gió.
LVRT là yêu cầu để đảm bảo cho các tuabin gió ở trạng thái “stay online”, các trang trại gió phải duy trì kết nối khi hệ thống điện bị xáo trộn, đồng thời cung cấp ngược lại công suất phản kháng và công suất tác dụng trong điều kiện quá độ điện áp. Các nguồn điện gió cần đáp ứng các yêu cầu này để được phép đấu nối vào lưới điện. Nếu hệ thống điện không được đáp ứng đủ lượng công suất phản kháng trong suốt quá trình sự cố hoặc sự gia tăng của phụ tải sẽ gây mất ổn định điện áp. Trong trường hợp các trang trại điện gió được kết nối vào một lưới điện mạnh tức công suất ngắn mạch (MVA) tại điểm đấu nối lớn hơn nhiều so với lượng công suất nhà máy bơm vào, khi đó điện áp và tần số có thể nhanh chóng được thiết lập lại sau sự cố với sự hỗ trợ của chính lưới điện.
Mặc khác, việc kết nối vào lưới điện yếu sẽ không đáng tin cậy vì luôn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định điện áp do các xáo trộn trên lưới điện gây ra. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Phân tích đánh giá ổn định động của hệ thống điện khi có tác động của nguồn năng lượng điện gió” được thực hiện với mục tiêu chính là tìm kiếm và nghiên cứu các mô hình toán học của tuabin gió cho việc tính toán ổn định được thực hiện trên phần mềm PSS/E. Quá trình tính toán sẽ đi từng bước từ việc phân tích đánh giá ổn định động của một hệ thống điện đơn giản gồm 11 bus được giả định trước đến một hệ thống điện thực tế ở Việt Nam khi được tích hợp một lượng lớn công suất từ nguồn điện gió, cụ thể là lưới điện khu vực tỉnh Bến Tre. Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở và công cụ cho việc xây dựng, phát họa những viễn cảnh cho một hệ thống điện trong tương lai về tính đáp ứng, mức độ bị ảnh hưởng và khả năng tích hợp đối với nguồn năng lượng điện gió.
Từ đó, đưa ra các kế hoạch vận hành ngắn hạn, dài hạn cho hệ thống điện. Tất cả vấn đề nghiên cứu xuất phát từ xu hướng chuyển dịch cơ cấu các ngành năng lượng, tầm quan trọng của ngành năng lượng mới thay thế cho các ngành năng lượng truyền thống sử dụng nguyên liệu hóa thạch và chiến lược phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nội dung của luận văn gồm có 5 chương với bố cục như sau: Chương 2 thảo luận ngắn gọn về tiềm năng phát triển điện gió ở Việt Nam, sơ lược về tình hình thị trường năng lượng điện gió trong năm 2019 và trình bày về các khái niệm ổn định, các nghiên cứu trước đây trong việc tích hợp nguồn năng lượng điện gió vào lưới điện, phần tiếp theo sẽ trình bày tổng quan về các khái niệm tuabin gió và đi vào phân tích chi tiết thành phần cũng như nguyên tắc hoạt động của các loại tuabin gió thương mại thông dụng nhất hiện nay, nội dung tiếp theo sẽ trình bày sơ lược các tiêu chuẩn kết nối trang trại điện gió vào lưới điện, và cuối cùng là đưa ra một số ưu điểm của các thiết bị FACTS trong việc đáp ứng các yêu cầu của lưới điện một cách nhanh chóng, tăng cường độ ổn định và linh hoạt trong vận hành. Chương 3 sẽ trình bày về các Luận văn thạc sĩ Trang 2 Phân tích đánh giá ổn định động của HTĐ khi có tác động của nguồn năng lượng điện gió GVHD: PGS.
TS Võ Ngọc Điều yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn đấu nối theo tiêu chuẩn lưới điện Việt Nam, các tác động của nguồn điện gió đến chất lượng điện năng, giới thiệu các mô hình hệ thống năng lượng điện gió nối lưới của GE. Chương 4 sẽ đưa các mô hình điện gió của GE vào chạy mô phỏng trên phần mềm PSS/E version 33.4, quá trình chạy mô phỏng được thực hiện lần lượt trên một hệ thống điện giả định đơn giản đến hệ thống điện thực tế ở tỉnh Bến Tre tương ứng với các kịch bản vận hành ở năm 2025 và từ đó đưa ra các đánh giá về mức độ ổn định của lưới điện sau sự cố hoặc biến đổi thời tiết. Cuối cùng là phần kết luận và hướng phát triển trong tương lai sẽ được trình bày trong chương 5. Luận văn thạc sĩ Trang 3 Phân tích đánh giá ổn định động của HTĐ khi có tác động của nguồn năng lượng điện gió GVHD: PGS.
TS Võ Ngọc Điều Chương 2 TỔNG QUAN 2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN ĐIỆN GIÓ Ở VIỆT NAM 2. Tiềm năng phát triển điện gió trên đất liền Dựa trên bản đồ tài nguyên gió mới, AWS Truepower đã cập nhật các ước tính về tiềm năng tài nguyên gió có thể phát triển của Việt Nam. Diện tích có thể phát triển trong từng ngưỡng tốc độ được ước tính với mật độ trung bình khoảng 10MW/km2.
Bảng 2-1 Tiềm năng điện gió trên đất liền ở Việt Nam [1] Tốc độ gió ở độ Dự kiến diện tích Tỷ lệ phần Ước lượng tiềm cao 80m (m/s) đất phát triển (km2) trăm năng Megawatt <4 95,916 45.00% 2,099,333 Hình 2-1 Tiềm năng điện gió trong đất liền [2] Tổng tiềm năng kỹ thuật: 217GW, trong đó: Gió cao (>6m/s) là 24GW Gió trung bình (5. Luận văn thạc sĩ Trang 4 Phân tích đánh giá ổn định động của HTĐ khi có tác động của nguồn năng lượng điện gió GVHD: PGS. TS Võ Ngọc Điều Bảng 2-2 Quy mô công suất lắp đăt điện gió trên đất liền của từng vùng [2] Đã được Đăng ký đầu tư nhưng chưa STT Tên vùng BSQH (MW) được BSQH (MW) 1 Bắc Bộ 2 Bắc Trung Bộ 372 3 Trung Trung Bộ 560 2522 4 Tây Nguyên 286.8 10174 5 Nam Trung Bộ 2030 2461 6 Nam Bộ 2099 14775 7 Tổng toàn quốc 4976 30304 Hình 2-2 Bản đồ tốc độ gió của Việt Nam ở độ cao 100m [1] Luận văn thạc sĩ Trang 5 Phân tích đánh giá ổn định động của HTĐ khi có tác động của nguồn năng lượng điện gió GVHD: PGS. TS Võ Ngọc Điều 2.
Tiềm năng phát triển điện gió ngoài khơi Hình 2-3 Hình ảnh minh họa tuabin gió ngoài khơi Theo phân tích tiềm năng kỹ thuật của điện gió ngoài khơi trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong 8 quốc gia có tiềm năng rất lớn phát triển điện gió ngoài khơi. Xem xét các khu vực ngoài khơi trong phạm vi 200km bờ biển, 8 quốc gia gồm: Brazil, India, Morocco, Philippines, South Africa, Sri Lanka, Turkey, and Việt Nam có tổng tiềm năng khoảng 3.