Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án Chương 2. Biểu thức đánh giá tường minh và không tường minh của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Chương 3. Biểu thức đánh giá theo thang độ và chủ đề của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Chương 4.
Nhân tố quyền lực trong biểu thức đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 12 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ngôn ngữ đánh giá Hầu hết các nhà ngữ học trên thế giới có thể nhất trí rằng lời nói đi đôi với sự biểu đạt giá trị, bởi vì “mỗi yếu tố trong một phát ngôn sống không chỉ có nghĩa mà có một giá trị. …Việc tách nghĩa của một từ ngữ ra khỏi đánh giá sẽ không tránh đƣợc việc loại bỏ nghĩa về vị trí của nó trong quá trình sống của xã hội - nơi nghĩa luôn thấm đẫm sự phán xét về giá trị” [110, tr.
Do đó, nghiên cứu ngôn ngữ xét cho cùng là tìm hiểu về giá trị, đó là sự đánh giá. Và ở chiều ngƣợc lại, thật khó nghiên cứu hệ thống giá trị mà không xem xét ngôn ngữ mà con ngƣời sử dụng để bộc lộ các giá trị ấy. Đây chính là chức năng đánh giá của ngôn ngữ - vốn đƣợc coi là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ [108, tr. Từ khởi nguyên của những tƣ tƣởng xem xét về giá trị, NNĐG cho tới tận ngày nay luôn đƣợc cho là sự bộc lộ hai thái cực hoặc hai trục giá trị của một nội dung nhất định, chẳng hạn: tốt/xấu, đúng/sai, hay tích cực/tiêu cực [108, tr.
Tuy nhiên, NNĐG còn thể hiện ở nhiều phƣơng diện năng động khác. Nó có thể công khai hoặc ngầm ẩn; một ngôn từ mà bề mặt tỏ ra trung tính lại có thể ngầm ẩn một đánh giá đối với ngƣời thụ ngôn; một nhận xét tỏ ra tích cực có khi ẩn dấu một nhận xét tiêu cực, và ngƣợc lại. Do đó, NNĐG càng ngày càng đƣợc xem xét trong thế năng động của nó: trong bối cảnh hành chức thực tế [108, tr. Tiếp cận truyền thống về NNĐG trong ngôn ngữ học chức năng thƣờng tập trung ở cấp độ từ vựng-ngữ pháp.
Ngôn ngữ học vào cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 trở nên quan tâm nhiều hơn tới tính đánh giá, đặc biệt từ góc độ ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội với sự xuất hiện và phát triển của nhiều tiếp cận và quan điểm khác nhau [108, tr. Nhìn chung, NNĐG không đơn giản là một biểu đạt của cá nhân trong đó ngƣời nói/viết “nhận xét” về thế giới mà đó là một hiện tƣợng xã hội liên nhân mà ở đó lí do cơ bản để đƣa ra một ý kiến là “để gợi lên tình thân hữu từ 13 z phía ngƣời thụ ngôn” [108, tr. Trong cố gắng tổng kết các phƣơng pháp tiếp cận về NNĐG, Hunston (2011) [68] đã chỉ ra bốn kiểu quan niệm sau: - Đánh giá là một hành động cá nhân không tƣờng minh nhƣng cũng có khi thể hiện trong ngôn ngữ. Quan niệm này thƣờng có trong đƣờng hƣớng phân tích hội thoại, chẳng hạn các tác giả Hutchby và Wooffitt (2008).
- Đánh giá gồm “một bộ các từ ngữ” biểu đạt nghĩa đánh giá. Do đó, trọng tâm nghiên cứu là các thành tố ngôn ngữ (từ, ngữ, phạm trù ngữ pháp). Đại diện là các tác giả Hyland và Tse (2004), Conrad và Biber (2000). - Đánh giá là “một bộ các nghĩa” biểu đạt trong một văn bản “sử dụng một loạt các tài nguyên ngôn ngữ khác nhau”.
Đại diện là các tác giả Martin và White (2005). - Đánh giá là một chức năng mà văn bản hoặc phần văn bản biểu đạt. Chính Hunston và Thompson là đại diện của quan niệm này [68, tr. Hunston cũng nêu ra sáu điểm chung giữa các quan niệm trên về NNĐG, gồm: (1) thừa nhận tính chủ quan và tính chủ quan liên nhân của đánh giá (chức năng tƣơng tác); (2) cho rằng qua đánh giá, một hệ tƣ tƣởng chung giữa ngƣời viết/nói và ngƣời đọc/nghe đƣợc cấu trúc; (3) nhận định có một phạm vi rộng rãi về từ vựng và về những dấu hiệu nghĩa đánh giá, có thể xác định đƣợc thông qua xem xét những gì “mong muốn” hoặc “không mong muốn”; (4) cho rằng NNĐG phụ thuộc mạnh vào ngữ cảnh và có tính tích tụ (tập trung tại một vài vị trí nhất định trong diễn ngôn); (5) xác định rằng nói đến ngôn ngữ đánh giá là nói đến đích, hoặc đối tƣợng và nguồn đánh giá, bản chất của ngôn ngữ đánh giá phụ thuộc vào bản chất của đối tƣợng; và (6) khẳng định rất khó để nhận dạng, phân biệt một cách đáng tin cậy những gì mang tính đánh giá và những gì không trong ngôn ngữ [68, tr.
Hiện nay, có ba hƣớng nghiên cứu nổi bật về NNĐG và mỗi hƣớng gắn liền với một thuật ngữ đại diện, lần lƣợt là: “lập trƣờng”, “đánh giá” và “thẩm định” [38, 68, 108]. Nhìn chung, cả ba hƣớng nghiên cứu này đều xem xét NNĐG dựa trên chức năng của nó trong giao tiếp liên nhân. Tuy nhiên, giữa ba đƣờng hƣớng này có nhiều điểm khác biệt.1 dƣới đây tổng hợp những nét chính yếu về ba hƣớng này xét về mục đích, trọng tâm, tiếp cận và các tác giả đại diện. Các đƣờng hƣớng này khác 14 z nhau ngay từ trong định nghĩa: Lập trường là “các biểu đạt từ vựng và ngữ pháp về thái độ, cảm xúc, phán xét và cam kết của tác giả/ngƣời nói liên quan đến các nội dung mệnh đề của thông điệp” [40, tr.1]; Đánh giá là “một thuật ngữ bao trùm rộng rãi để diễn đạt thái độ hoặc lập trƣờng, quan điểm hoặc cảm xúc của ngƣời nói/viết đối với các thực thể hoặc các mệnh đề mà ngƣời đó nói tới” [109]; Thẩm định là “các tài nguyên ngữ nghĩa đƣợc sử dụng để thƣơng lƣợng những cảm xúc, phán xét và xác định giá trị, cùng với việc khuếch đại và tham gia vào những đánh giá này” [84].
Tóm tắt ba hƣớng nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá Hƣớng Phƣơng pháp Quan điểm trọng tâm Đại diện nghiên cứu tiếp cận NN lập trƣờng biểu đạt - Tiếp cận dựa trên khối ngữ Biber và Lập trƣờng thái độ, cảm giác, phán liệu (corpus-based) đồng sự (Stance) xét và cam kết - Tiếp cận kết hợp (1999) NNĐG biểu đạt thái độ - Khung nghiên cứu dựa trên Hunston và Đánh giá hoặc lập trƣờng, quan tham số (parameter-based) Thompson (Evaluation) điểm, cảm xúc - Tiếp cận kết hợp (2000) NN thẩm định dùng để Tiếp cận phân tích diễn ngôn Martin và Thẩm định thƣơng lƣợng cảm xúc, (discourse analytic) White (Appraisal) phán xét và thẩm giá - Tiếp cận riêng (2005) (Nguồn: Tóm tắt dựa trên [41, 84, 109]) Dƣới đây là miêu tả vắn tắt về các đƣờng hƣớng này: Thứ nhất, hướng nghiên cứu NNĐG là sự biểu đạt về “lập trường”: “Lập trƣờng” do Biber và đồng sự (1999) đề xuất là một tiếp cận đi từ hình thức đến chức năng, gồm ba phạm trù: Lập trƣờng “nhận thức” (Epistemic); “thái độ” (Attitudinal); và “phong cách nói năng” (Style of speaking). Theo các tác giả, dấu hiệu lập trƣờng nhận thức là ngƣời nói/viết nhận xét về trạng thái thông tin trong một mệnh đề (chắc chắn/nghi ngờ, thực tế, chính xác, hoặc hạn chế; về nguồn hoặc quan điểm cung cấp kiến thức, thông tin). Dấu hiệu lập trƣờng thái độ gồm hai nhóm: thái độ (ví dụ: thú vị, thật may mắn) và cảm giác (ví dụ: sợ, yêu). Hai nhóm này không phải lúc nào cũng phân biệt rõ ràng (ví dụ: hy vọng, mong đợi).
Các dấu 15 z hiệu lập trƣờng thái độ ít phổ biến hơn các dấu hiệu lập trƣờng nhận thức và cũng hạn chế hơn trong biểu đạt về ngữ pháp. Lập trƣờng phong cách nói năng “thể hiện đánh giá của ngƣời nói về bản thân việc giao tiếp”. tóm tắt các nội dung cơ bản của hƣớng nghiên cứu NNĐG là sự biểu đạt về lập trƣờng. Lập trƣờng 3 nhận dạng: 3 loại: - cận ngôn - lập trƣờng nhận thức Xác định dựa - từ vựng - lập trƣờng thái độ trên nghiên cứu - ngữ pháp (chủ yếu) - lập trƣờng phong cách khối ngữ liệu (Nguồn: Tóm tắt từ [41]) Sơ đồ 1.
Tóm tắt hƣớng nghiên cứu “lập trƣờng” So với hai mô hình kia, lí thuyết về “lập trƣờng” dựa trên một quan điểm tƣơng đối khác, cho rằng ngôn ngữ thực hiện những “chức năng” hoặc “nhiệm vụ tƣ tƣởng, văn bản, cá nhân, liên nhân, ngữ cảnh và mỹ học” [41, tr. Các đặc điểm ngôn ngữ bộc lộ lập trƣờng nằm trong nhóm “các nhiệm vụ cá nhân”, truyền đạt thái độ, suy nghĩ và cảm xúc của ngƣời nói. Mô hình lí thuyết này tập trung vào những biểu đạt tƣờng minh về từ vựng-ngữ pháp - thông qua các phƣơng tiện ngữ pháp, từ vựng và các phƣơng tiện cận ngôn [41, tr.965-971] - hầu nhƣ không xem xét ngôn ngữ đánh giá gián tiếp nhƣ hai mô hình kia. Do đó, phạm vi của lí thuyết này hẹp hơn.
Biber và đồng sự đã đóng góp nhiều bằng chứng định lƣợng và định tính về các đặc điểm từ vựng-ngữ pháp biểu đạt lập trƣờng qua nghiên cứu khối ngữ liệu. Lí thuyết này đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu khác nhau [68]. Nó cũng đƣợc Thompson và Hunston (2000) vận dụng để nghiên cứu về các dấu hiệu của NNĐG [109]. Thứ hai, hướng nghiên cứu NNĐG là sự phán xét về “giá trị”: Thuật ngữ “đánh giá” (Evaluation) của Thompson và Hunston (2000) rộng hơn so với cách hiểu thông thƣờng về các biểu hiện tốt hay xấu trong ngôn ngữ.
Do đó, mô hình để nhận dạng nó cũng rất “mở” [38, tr. Truyền thống ngôn ngữ học 16 z thƣờng nghiên cứu nghĩa đánh giá theo hai lĩnh vực tách rời nhau là ngôn ngữ cảm xúc và tình thái. Ở mô hình này, các tác giả đƣa hai khía cạnh đó đến cạnh nhau. So với mô hình “thẩm định”, khung lí thuyết NNĐG dựa trên tham số sử dụng phƣơng pháp tiếp cận kết hợp, không tách riêng “lập trƣờng cảm xúc” và “lập trƣờng nhận thức”.
Hơn thế, nó còn nhấn mạnh sự giống nhau giữa “lập trƣờng cảm xúc” và “lập trƣờng nhận thức” [38, tr. Ngoài ra, khái niệm “đánh giá” cũng không trùng với “lập trƣờng” bởi vì ngay trong định nghĩa, Thompson và Hunston đã chỉ rõ NNĐG tạo nên những biểu đạt về lập trƣờng hoặc thái độ của ngƣời nói.