Luận án tiến sĩ ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo trên truyền hình thực tế trong một số chương trình giải trí tiếng việt có liên hệ với tiếng anh

Luận án tiến sĩ phân tích đánh giá của giám khảo trên truyền hình thực tế trong các chương trình giải trí tiếng Việt và liên hệ với tiếng Anh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1.3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

1.4. PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

1.6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ngôn ngữ đánh giá

2.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về ngôn ngữ đánh giá

2.2. Cơ sở lí luận của luận án

2.2.1. Giao tiếp ngôn ngữ trên truyền hình thực tế

2.2.2. Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ đánh giá

2.2.3. Hành động ngôn từ đánh giá

2.2.4. Nhân tố xã hội trong giao tiếp đánh giá

2.2.5. Hướng tiếp cận của luận án

2.2.6. Tiểu kết chương 1

3. CHƯƠNG 2: BIỂU THỨC ĐÁNH GIÁ TƯỜNG MINH VÀ KHÔNG TƯỜNG MINH CỦA GIÁM KHẢO TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

3.1. Tổng quát về sự kiện giao tiếp đánh giá của giám khảo

3.2. Biểu thức đánh giá tường minh của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

3.2.1. Biểu thức đánh giá tường minh của giám khảo truyền hình thực tế nhìn từ việc sử dụng từ ngữ chứa giá trị

3.2.2. Biểu thức đánh giá tường minh của giám khảo truyền hình thực tế nhìn từ cấu trúc nghĩa của biểu thức đánh giá

3.3. Biểu thức đánh giá không tường minh của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

3.3.1. Biểu thức đánh giá không tường minh của giám khảo truyền hình thực tế theo chức năng của hành động ngôn từ

3.3.2. Biểu thức đánh giá không tường minh của giám khảo truyền hình thực tế theo phương tiện từ vựng

3.4. Tiểu kết chương 2

4. CHƯƠNG 3: BIỂU THỨC ĐÁNH GIÁ THEO THANG ĐỘ VÀ CHỦ ĐỀ CỦA GIÁM KHẢO TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

4.1. Biểu thức đánh giá theo thang độ của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

4.1.1. Dấu hiệu tham số giá trị trong biểu thức đánh giá

4.1.2. Dấu hiệu thang độ trong biểu thức đánh giá

4.1.3. Thang độ trong biểu thức đánh giá

4.2. Biểu thức đánh giá theo chủ đề của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

4.2.1. Các chủ đề đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế

4.2.2. Hình thức biểu thức và chủ đề đánh giá của giám khảo

4.2.3. Thang độ đánh giá xét theo chủ đề và kết quả đánh giá của giám khảo

4.3. Tiểu kết chương 3

5. CHƯƠNG 4: NHÂN TỐ QUYỀN LỰC TRONG BIỂU THỨC ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁM KHẢO TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

5.1. Dấu hiệu quyền lực trong giao tiếp đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

5.1.1. Dấu hiệu từ vựng chỉ thị quyền lực giao tiếp đánh giá

5.1.2. Dấu hiệu diễn ngôn về kiểm soát giao tiếp đánh giá

5.2. Sự thể hiện quyền lực trong biểu thức đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

5.2.1. Quyền hợp pháp

5.2.2. Quyền qui chiếu

5.2.3. Quyền chuyên gia

5.2.4. Sự đấu tranh quyền lực

5.3. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ thể hiện giá trịphong cách giao tiếp của người nói. Đặc biệt, trong bối cảnh chương trình thực tế, giám khảo đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nội dung chương trình thông qua các phát biểu của họ. Việc phân tích ngôn ngữ của giám khảo giúp làm rõ cách thức mà họ truyền đạt đánh giá và ảnh hưởng của nó đến người tham giakhán giả. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ngôn ngữ đánh giá có sự khác biệt rõ rệt giữa các nền văn hóa, đặc biệt là giữa tiếng Việttiếng Anh.

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngôn ngữ đánh giá là một phần không thể thiếu trong giao tiếp hàng ngày. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngôn ngữ không chỉ mang tính chất thông tin mà còn chứa đựng đánh giáphán xét. Điều này đặc biệt quan trọng trong các chương trình thực tế, nơi mà giám khảo thường xuyên đưa ra phản hồi cho thí sinh. Sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của giám khảo không chỉ phản ánh kỹ năng ngôn ngữ mà còn thể hiện phong cách giao tiếpnhân tố xã hội trong giao tiếp đánh giá.

II. Biểu thức đánh giá tường minh và không tường minh

Trong chương trình thực tế, giám khảo thường sử dụng các biểu thức đánh giá tường minh và không tường minh để truyền đạt ý kiến của mình. Biểu thức đánh giá tường minh thường rõ ràng và dễ hiểu, giúp thí sinh nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu của mình. Ngược lại, biểu thức đánh giá không tường minh có thể mang tính chất ẩn dụ hoặc hàm ý, yêu cầu người tham gia phải suy nghĩ và phân tích để hiểu được ý nghĩa thực sự. Việc phân tích các biểu thức đánh giá này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn về nhân tố xã hộiquyền lực trong giao tiếp.

2.1. Biểu thức đánh giá tường minh

Các biểu thức đánh giá tường minh thường được sử dụng trong các chương trình thực tế để cung cấp phản hồi trực tiếp cho thí sinh. Chúng thường bao gồm các từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu và không có sự mơ hồ. Ví dụ, một giám khảo có thể nói: "Bạn đã thể hiện rất tốt trong phần trình diễn này". Những phát biểu như vậy không chỉ giúp thí sinh cảm thấy tự tin mà còn tạo ra một môi trường tích cực trong chương trình.

2.2. Biểu thức đánh giá không tường minh

Ngược lại, các biểu thức đánh giá không tường minh thường chứa đựng nhiều tầng nghĩa và yêu cầu thí sinh phải suy nghĩ để hiểu được ý nghĩa. Ví dụ, một giám khảo có thể nói: "Bạn đã có một phong cách rất riêng biệt". Câu nói này có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, từ việc khen ngợi đến việc chỉ trích một cách tinh tế. Điều này cho thấy sự phức tạp trong giao tiếp đánh giá và cách mà ngôn ngữ có thể được sử dụng để thể hiện quyền lựcphong cách giao tiếp.

III. Đánh giá theo thang độ và chủ đề

Việc phân tích đánh giá theo thang độchủ đề là một phần quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá. Giám khảo thường sử dụng các thang độ khác nhau để thể hiện mức độ đánh giá của mình, từ tích cực đến tiêu cực. Điều này không chỉ giúp thí sinh hiểu rõ hơn về phản hồi mà còn tạo ra một bức tranh tổng thể về cách mà ngôn ngữ được sử dụng trong chương trình thực tế. Các chủ đề cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nội dung chương trình và ảnh hưởng đến cách mà khán giả tiếp nhận thông tin.

3.1. Đánh giá theo thang độ

Các giám khảo thường sử dụng thang độ để phân loại đánh giá của mình. Ví dụ, một giám khảo có thể sử dụng thang độ từ 1 đến 10 để đánh giá phần trình diễn của thí sinh. Điều này không chỉ giúp thí sinh nhận biết được mức độ đánh giá mà còn tạo ra một tiêu chuẩn rõ ràng cho các giám khảo khác. Việc sử dụng thang độ cũng giúp tăng tính khách quan trong đánh giá và giảm thiểu sự thiên lệch trong phản hồi.

3.2. Đánh giá theo chủ đề

Mỗi chương trình thực tế thường xoay quanh một chủ đề cụ thể, và các giám khảo sẽ điều chỉnh đánh giá của mình dựa trên chủ đề đó. Ví dụ, trong một chương trình nấu ăn, giám khảo có thể tập trung vào kỹ năng nấu nướng, trong khi trong một chương trình ca nhạc, họ có thể chú trọng đến khả năng biểu diễn. Việc phân tích đánh giá theo chủ đề giúp làm rõ cách mà ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện các giá trị văn hóa và xã hội trong giao tiếp đánh giá.

IV. Nhân tố quyền lực trong biểu thức đánh giá

Nhân tố quyền lực đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp đánh giá của giám khảo. Các giám khảo không chỉ là người đưa ra đánh giá mà còn là người có quyền quyết định kết quả của chương trình. Điều này tạo ra một mối quan hệ phức tạp giữa giám khảothí sinh, nơi mà quyền lực có thể ảnh hưởng đến cách mà ngôn ngữ được sử dụng. Việc phân tích các dấu hiệu quyền lực trong biểu thức đánh giá giúp làm rõ cách mà ngôn ngữ có thể được sử dụng để thể hiện và duy trì quyền lực trong giao tiếp.

4.1. Dấu hiệu quyền lực trong giao tiếp đánh giá

Các giám khảo thường sử dụng các dấu hiệu ngôn ngữ để thể hiện quyền lực của mình trong giao tiếp đánh giá. Ví dụ, họ có thể sử dụng các từ ngữ mạnh mẽ hoặc các cấu trúc ngữ pháp đặc biệt để nhấn mạnh đánh giá của mình. Điều này không chỉ giúp họ thể hiện quyền lực mà còn tạo ra một bầu không khí căng thẳng trong chương trình. Việc phân tích các dấu hiệu này giúp làm rõ cách mà ngôn ngữ có thể được sử dụng để thể hiện quyền lực trong giao tiếp.

4.2. Sự thể hiện quyền lực trong biểu thức đánh giá

Sự thể hiện quyền lực trong biểu thức đánh giá có thể được nhìn thấy qua cách mà giám khảo đưa ra phản hồi. Họ có thể sử dụng các cấu trúc ngữ pháp phức tạp hoặc các từ ngữ mang tính chất chỉ thị để thể hiện quyền lực của mình. Ví dụ, một giám khảo có thể nói: "Tôi nghĩ bạn cần cải thiện kỹ năng này". Câu nói này không chỉ thể hiện đánh giá mà còn cho thấy quyền lực của giám khảo trong việc định hình nội dung chương trình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo trên truyền hình thực tế trong một số chương trình giải trí tiếng việt có liên hệ với tiếng anh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án Chương 2. Biểu thức đánh giá tường minh và không tường minh của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Chương 3. Biểu thức đánh giá theo thang độ và chủ đề của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Chương 4.

Nhân tố quyền lực trong biểu thức đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 12 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ngôn ngữ đánh giá Hầu hết các nhà ngữ học trên thế giới có thể nhất trí rằng lời nói đi đôi với sự biểu đạt giá trị, bởi vì “mỗi yếu tố trong một phát ngôn sống không chỉ có nghĩa mà có một giá trị. …Việc tách nghĩa của một từ ngữ ra khỏi đánh giá sẽ không tránh đƣợc việc loại bỏ nghĩa về vị trí của nó trong quá trình sống của xã hội - nơi nghĩa luôn thấm đẫm sự phán xét về giá trị” [110, tr.

Do đó, nghiên cứu ngôn ngữ xét cho cùng là tìm hiểu về giá trị, đó là sự đánh giá. Và ở chiều ngƣợc lại, thật khó nghiên cứu hệ thống giá trị mà không xem xét ngôn ngữ mà con ngƣời sử dụng để bộc lộ các giá trị ấy. Đây chính là chức năng đánh giá của ngôn ngữ - vốn đƣợc coi là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ [108, tr. Từ khởi nguyên của những tƣ tƣởng xem xét về giá trị, NNĐG cho tới tận ngày nay luôn đƣợc cho là sự bộc lộ hai thái cực hoặc hai trục giá trị của một nội dung nhất định, chẳng hạn: tốt/xấu, đúng/sai, hay tích cực/tiêu cực [108, tr.

Tuy nhiên, NNĐG còn thể hiện ở nhiều phƣơng diện năng động khác. Nó có thể công khai hoặc ngầm ẩn; một ngôn từ mà bề mặt tỏ ra trung tính lại có thể ngầm ẩn một đánh giá đối với ngƣời thụ ngôn; một nhận xét tỏ ra tích cực có khi ẩn dấu một nhận xét tiêu cực, và ngƣợc lại. Do đó, NNĐG càng ngày càng đƣợc xem xét trong thế năng động của nó: trong bối cảnh hành chức thực tế [108, tr. Tiếp cận truyền thống về NNĐG trong ngôn ngữ học chức năng thƣờng tập trung ở cấp độ từ vựng-ngữ pháp.

Ngôn ngữ học vào cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 trở nên quan tâm nhiều hơn tới tính đánh giá, đặc biệt từ góc độ ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội với sự xuất hiện và phát triển của nhiều tiếp cận và quan điểm khác nhau [108, tr. Nhìn chung, NNĐG không đơn giản là một biểu đạt của cá nhân trong đó ngƣời nói/viết “nhận xét” về thế giới mà đó là một hiện tƣợng xã hội liên nhân mà ở đó lí do cơ bản để đƣa ra một ý kiến là “để gợi lên tình thân hữu từ 13 z phía ngƣời thụ ngôn” [108, tr. Trong cố gắng tổng kết các phƣơng pháp tiếp cận về NNĐG, Hunston (2011) [68] đã chỉ ra bốn kiểu quan niệm sau: - Đánh giá là một hành động cá nhân không tƣờng minh nhƣng cũng có khi thể hiện trong ngôn ngữ. Quan niệm này thƣờng có trong đƣờng hƣớng phân tích hội thoại, chẳng hạn các tác giả Hutchby và Wooffitt (2008).

- Đánh giá gồm “một bộ các từ ngữ” biểu đạt nghĩa đánh giá. Do đó, trọng tâm nghiên cứu là các thành tố ngôn ngữ (từ, ngữ, phạm trù ngữ pháp). Đại diện là các tác giả Hyland và Tse (2004), Conrad và Biber (2000). - Đánh giá là “một bộ các nghĩa” biểu đạt trong một văn bản “sử dụng một loạt các tài nguyên ngôn ngữ khác nhau”.

Đại diện là các tác giả Martin và White (2005). - Đánh giá là một chức năng mà văn bản hoặc phần văn bản biểu đạt. Chính Hunston và Thompson là đại diện của quan niệm này [68, tr. Hunston cũng nêu ra sáu điểm chung giữa các quan niệm trên về NNĐG, gồm: (1) thừa nhận tính chủ quan và tính chủ quan liên nhân của đánh giá (chức năng tƣơng tác); (2) cho rằng qua đánh giá, một hệ tƣ tƣởng chung giữa ngƣời viết/nói và ngƣời đọc/nghe đƣợc cấu trúc; (3) nhận định có một phạm vi rộng rãi về từ vựng và về những dấu hiệu nghĩa đánh giá, có thể xác định đƣợc thông qua xem xét những gì “mong muốn” hoặc “không mong muốn”; (4) cho rằng NNĐG phụ thuộc mạnh vào ngữ cảnh và có tính tích tụ (tập trung tại một vài vị trí nhất định trong diễn ngôn); (5) xác định rằng nói đến ngôn ngữ đánh giá là nói đến đích, hoặc đối tƣợng và nguồn đánh giá, bản chất của ngôn ngữ đánh giá phụ thuộc vào bản chất của đối tƣợng; và (6) khẳng định rất khó để nhận dạng, phân biệt một cách đáng tin cậy những gì mang tính đánh giá và những gì không trong ngôn ngữ [68, tr.

Hiện nay, có ba hƣớng nghiên cứu nổi bật về NNĐG và mỗi hƣớng gắn liền với một thuật ngữ đại diện, lần lƣợt là: “lập trƣờng”, “đánh giá” và “thẩm định” [38, 68, 108]. Nhìn chung, cả ba hƣớng nghiên cứu này đều xem xét NNĐG dựa trên chức năng của nó trong giao tiếp liên nhân. Tuy nhiên, giữa ba đƣờng hƣớng này có nhiều điểm khác biệt.1 dƣới đây tổng hợp những nét chính yếu về ba hƣớng này xét về mục đích, trọng tâm, tiếp cận và các tác giả đại diện. Các đƣờng hƣớng này khác 14 z nhau ngay từ trong định nghĩa: Lập trường là “các biểu đạt từ vựng và ngữ pháp về thái độ, cảm xúc, phán xét và cam kết của tác giả/ngƣời nói liên quan đến các nội dung mệnh đề của thông điệp” [40, tr.1]; Đánh giá là “một thuật ngữ bao trùm rộng rãi để diễn đạt thái độ hoặc lập trƣờng, quan điểm hoặc cảm xúc của ngƣời nói/viết đối với các thực thể hoặc các mệnh đề mà ngƣời đó nói tới” [109]; Thẩm định là “các tài nguyên ngữ nghĩa đƣợc sử dụng để thƣơng lƣợng những cảm xúc, phán xét và xác định giá trị, cùng với việc khuếch đại và tham gia vào những đánh giá này” [84].

Tóm tắt ba hƣớng nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá Hƣớng Phƣơng pháp Quan điểm trọng tâm Đại diện nghiên cứu tiếp cận NN lập trƣờng biểu đạt - Tiếp cận dựa trên khối ngữ Biber và Lập trƣờng thái độ, cảm giác, phán liệu (corpus-based) đồng sự (Stance) xét và cam kết - Tiếp cận kết hợp (1999) NNĐG biểu đạt thái độ - Khung nghiên cứu dựa trên Hunston và Đánh giá hoặc lập trƣờng, quan tham số (parameter-based) Thompson (Evaluation) điểm, cảm xúc - Tiếp cận kết hợp (2000) NN thẩm định dùng để Tiếp cận phân tích diễn ngôn Martin và Thẩm định thƣơng lƣợng cảm xúc, (discourse analytic) White (Appraisal) phán xét và thẩm giá - Tiếp cận riêng (2005) (Nguồn: Tóm tắt dựa trên [41, 84, 109]) Dƣới đây là miêu tả vắn tắt về các đƣờng hƣớng này: Thứ nhất, hướng nghiên cứu NNĐG là sự biểu đạt về “lập trường”: “Lập trƣờng” do Biber và đồng sự (1999) đề xuất là một tiếp cận đi từ hình thức đến chức năng, gồm ba phạm trù: Lập trƣờng “nhận thức” (Epistemic); “thái độ” (Attitudinal); và “phong cách nói năng” (Style of speaking). Theo các tác giả, dấu hiệu lập trƣờng nhận thức là ngƣời nói/viết nhận xét về trạng thái thông tin trong một mệnh đề (chắc chắn/nghi ngờ, thực tế, chính xác, hoặc hạn chế; về nguồn hoặc quan điểm cung cấp kiến thức, thông tin). Dấu hiệu lập trƣờng thái độ gồm hai nhóm: thái độ (ví dụ: thú vị, thật may mắn) và cảm giác (ví dụ: sợ, yêu). Hai nhóm này không phải lúc nào cũng phân biệt rõ ràng (ví dụ: hy vọng, mong đợi).

Các dấu 15 z hiệu lập trƣờng thái độ ít phổ biến hơn các dấu hiệu lập trƣờng nhận thức và cũng hạn chế hơn trong biểu đạt về ngữ pháp. Lập trƣờng phong cách nói năng “thể hiện đánh giá của ngƣời nói về bản thân việc giao tiếp”. tóm tắt các nội dung cơ bản của hƣớng nghiên cứu NNĐG là sự biểu đạt về lập trƣờng. Lập trƣờng 3 nhận dạng: 3 loại: - cận ngôn - lập trƣờng nhận thức Xác định dựa - từ vựng - lập trƣờng thái độ trên nghiên cứu - ngữ pháp (chủ yếu) - lập trƣờng phong cách khối ngữ liệu (Nguồn: Tóm tắt từ [41]) Sơ đồ 1.

Tóm tắt hƣớng nghiên cứu “lập trƣờng” So với hai mô hình kia, lí thuyết về “lập trƣờng” dựa trên một quan điểm tƣơng đối khác, cho rằng ngôn ngữ thực hiện những “chức năng” hoặc “nhiệm vụ tƣ tƣởng, văn bản, cá nhân, liên nhân, ngữ cảnh và mỹ học” [41, tr. Các đặc điểm ngôn ngữ bộc lộ lập trƣờng nằm trong nhóm “các nhiệm vụ cá nhân”, truyền đạt thái độ, suy nghĩ và cảm xúc của ngƣời nói. Mô hình lí thuyết này tập trung vào những biểu đạt tƣờng minh về từ vựng-ngữ pháp - thông qua các phƣơng tiện ngữ pháp, từ vựng và các phƣơng tiện cận ngôn [41, tr.965-971] - hầu nhƣ không xem xét ngôn ngữ đánh giá gián tiếp nhƣ hai mô hình kia. Do đó, phạm vi của lí thuyết này hẹp hơn.

Biber và đồng sự đã đóng góp nhiều bằng chứng định lƣợng và định tính về các đặc điểm từ vựng-ngữ pháp biểu đạt lập trƣờng qua nghiên cứu khối ngữ liệu. Lí thuyết này đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu khác nhau [68]. Nó cũng đƣợc Thompson và Hunston (2000) vận dụng để nghiên cứu về các dấu hiệu của NNĐG [109]. Thứ hai, hướng nghiên cứu NNĐG là sự phán xét về “giá trị”: Thuật ngữ “đánh giá” (Evaluation) của Thompson và Hunston (2000) rộng hơn so với cách hiểu thông thƣờng về các biểu hiện tốt hay xấu trong ngôn ngữ.

Do đó, mô hình để nhận dạng nó cũng rất “mở” [38, tr. Truyền thống ngôn ngữ học 16 z thƣờng nghiên cứu nghĩa đánh giá theo hai lĩnh vực tách rời nhau là ngôn ngữ cảm xúc và tình thái. Ở mô hình này, các tác giả đƣa hai khía cạnh đó đến cạnh nhau. So với mô hình “thẩm định”, khung lí thuyết NNĐG dựa trên tham số sử dụng phƣơng pháp tiếp cận kết hợp, không tách riêng “lập trƣờng cảm xúc” và “lập trƣờng nhận thức”.

Hơn thế, nó còn nhấn mạnh sự giống nhau giữa “lập trƣờng cảm xúc” và “lập trƣờng nhận thức” [38, tr. Ngoài ra, khái niệm “đánh giá” cũng không trùng với “lập trƣờng” bởi vì ngay trong định nghĩa, Thompson và Hunston đã chỉ rõ NNĐG tạo nên những biểu đạt về lập trƣờng hoặc thái độ của ngƣời nói.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá ngôn ngữ của các giám khảo trên truyền hình thực tế trong các chương trình giải trí tiếng Việt" của tác giả Trần Thị Thanh Hương, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Khang, tập trung vào việc phân tích ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo trong các chương trình truyền hình thực tế tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức mà ngôn ngữ được sử dụng để đánh giá và phản hồi trong các chương trình giải trí, mà còn mở rộng ra mối liên hệ với ngôn ngữ tiếng Anh, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự giao thoa văn hóa và ngôn ngữ trong bối cảnh truyền thông hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên năm thứ tư Khoa Ngoại ngữ Đại học Vinh và biện pháp khắc phục", nơi phân tích các lỗi phát âm và cách khắc phục, hoặc bài viết "Động lực học tiếng Anh của sinh viên không chuyên tại Đại học Quy Nhơn", nghiên cứu về động lực học tiếng Anh trong môi trường học thuật. Cả hai bài viết này đều liên quan đến ngôn ngữ học và cung cấp những góc nhìn bổ ích cho những ai quan tâm đến việc học và giảng dạy ngôn ngữ.