Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây thanh long Cây thanh long (Dragon fruit, Pitahaya) có nguồn gốc ở vùng sa mạc thuộc Mexico và Colombia. Thanh long được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng mới được trồng rộng rãi từ thập niên 1980 (Nguyễn Văn Kế, 1997). Theo Mizrahi và Nobel (1997) có hơn 250 loài xương rồng được trồng như là những cây ăn trái. Các loài này xuất phát từ 35 đến 40 giống khác nhau nhưng không phải tat cả đều có cùng giá trị kinh tế, trong đó giống Hylocerus có 4 loài: Hylocereus trianlaris Britt va Rose, Hylocereus undatus Britt và Rose, Hylocereus ocamposis Britt va Rose, Hylocereus trigonus Saff.
Thanh long Việt Nam là loại thanh long ruột trắng, năm 1995 Viện cây ăn qua Miền Nam đã nhập về 2 giống thanh long ruột đỏ và thanh long ruột vàng để nghiên cứu. Qua kết quả khảo nghiệm, giống thanh long ruột đỏ có một số ưu điểm như: khả năng ra hoa mạnh và kéo dai, phâm chất ngon, thịt trái màu đỏ đẹp. Tuy nhiên giống này có khuyết điểm là khả năng thụ phan tự nhiên rất kém, trái nhỏ và hình dang trái không đẹp. Vì vậy đến năm 1997, các nhà khoa học của Viện cây ăn quả Miền Nam đã tién hành tạo các tổ hợp lai cải thiện nhược điểm của các giống này.
Đến năm 2000 đã tuyển chọn được 12 con lai triển vọng và nhân giống khảo nghiệm tại các tỉnh Bình Thuận, Long An và Tiền Giang. Năm 2004, Viện cây ăn quả Miền Nam đã tuyên chọn được giống thanh long ruột đỏ Long Dinh 1. Đến năm 2005, giống này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất tại các tỉnh phía Nam. Năm 2009, Viện cây ăn quả Miền Nam đã chọn lọc và tiến hành lai hữu tinh giữa giống thanh long ruột đỏ Long Định 1 và giống thanh long ruột trắng Chợ Gạo.
Sau thời gian đánh giá chất lượng quả tập đoàn con lai và dòng lai thanh long có triển vọng trồng khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng, nhóm đã cho ra đời giống thanh long ruột tím hồng Long Định 5 đầu tiên tại Việt Nam 1.2 Tổng quan về bệnh đốm nâu (Neoscytalidium dimidiatum) gây hại trên thanh long 1.1 Vị tri phan loại Nam Neoscytalidium dimidiatum thuộc: Giới: Fungi Ngành: Ascomycota Lớp: Leotiomycetes Bộ: Helotiales Họ: Botryosphaeriaceae Chi: Neoscytalidium Loài: Neoscytalidium dimidiatum Nam Neoscytalidium dimidiatum còn có tên gọi khác là Hendersonula toruloidea (Nattrass, 1933), Nattrassia maniferae (Sutton và Dyko, 1989), Fusicoccum dimidiatum (Farr va ctv, 2005).2 Những ky chủ của nam Neoscytalidium dimidiatum Nam Neoscytalidium dimidiatum phân bố địa lý và có ký chủ khá rộng. dimidiatum được ghi nhận như một tác nhân gây bệnh đốm cành trên xoài và một số cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới khác ở Hy Lạp (Nattrass, 1933). dimidiatum gây bệnh trên cây thuộc họ đỗ quyên, họ dé, họ cam quýt, ho si, họ chuối, họ dương, họ mận mơ, họ đào lộn hột, hoàng đàn (Farr và ctv, 1989). Ở Oman, Elshafie và Ba-Omar (2001) ghi nhận được N.
dimidiatum gây bệnh trên bồ kết tây (Albizia lebbeck), phượng vy (Delonix regia), cây sung (Ficus carica), Ficus spp., cây lim (Peltophorum spp.) và tra bồ dé (Thespesia populena). dimidiatum 4 gây hại trên cây bao bap (Adansonia gibbosa), cay keo (Acacia synchronica), cay lục lac đỏ (Crotalaria medicaginea), Grevillia agrifolia, xoài (Mangifera indica) va cây sung (Ficus carica) (Pavlic va ctv, 2008). Ezra va ctv (2013) ghi nhận bệnh thối đen quả thanh long (internal black rot) tan công đầu tiên vào năm 2009 ở Israel va gây thiệt hai nặng nề cho nhiều vườn thanh long với tỷ lệ gây hại trên quả lên đến trên 50%. Kết quả xác định và kiểm chứng tác nhân gây bệnh thối den qua là do nắm N.
Chuang va ctv (2012) báo cáo tại Đài Loan vào năm 2009 — 2010 đã bắt đầu xuất hiện bệnh loét (canker) do nắm N. dimidiatum gây ra trên cả hai loài Hylocereus undatus (ruột trắng) và H. polyrhizus Britt & Rose (ruột đỏ). Kết quả phân lập trên môi trường PDA, quan sát hình thái và sử dụng kỹ thuật PCR khuếch đại với mỗi ITS1 và ITS4 và giải trình tự gene cho kết qua là nam gây hại tương đồng đến 99% với Neoscytalidium dimidiatum (Penz.
Tại thành phố Conghua và Yunfu, tinh Quảng Đông (Trung Quốc) xuất hiện một loại bệnh hại mới trên cành thanh long đã được ghi nhận với một số đặc điểm như: cành bị bệnh có nhiều dém tròn nhỏ có màu nâu nhạt đỏ (Trung Quốc gọi là bệnh đốm nâu), vết bệnh phát triển rất nhanh chóng và gây loét rộng khắp cành. Triệu chứng bệnh cũng tương tự như trường hợp bệnh loét (N. dimidiatum) đã từng xảy ra ở Đài Loan. Tác nhân cũng được xác định là do N.) Crous & Slippers gây ra (Lan và ctv, 2012).
Mohd và ctv (2013) cũng đã ghi nhận bệnh loét cành (canker) đã tấn công và gây hại thanh long (Hylocereus polyrhizus) ở 10 bang ở Malaysia năm 2008-2009 với tỷ lệ gây hai 2 - 42%. Tương tự như ở Đài Loan và Trung Quốc, nam N. dimidiatum cũng được chứng minh là tác nhân gây bệnh loét cảnh thanh long. Ở Việt Nam, Viện cây ăn quả miền Nam đã thu nhiều mẫu bệnh (80 mẫu) tại Tiền Giang và Long An và mẫu từ Chi cục Bảo vệ thực vật Bình Thuận dé giam dinh tac nhân gây bệnh vào năm 2011.
Kết qua phân lập tác nhân trên môi trường PDA, thông qua giám định hình thái và giải trình tự gen từ mẫu phân lập cho kết quả tương đồng với nam Neoscytalidium dimidiatum đến 100%.3 Đặc điểm hình thái của nắm Neoscytalidium dimidiatum Soi nâm có màu nâu đên nâu đậm, mịn, dày 2 — 8 pm. Bảo tử có màu nâu dén nâu sam, mịn, không có vách ngăn, bào tử có hình trụ (kích thước 4 — 7 x 3 - 8 um) hoặc hình cau, bán cầu (đường kính 5 — 11 um) (Ellis, 1976). Tan nam có màu trắng xám, xám hoặc nâu đen, không phát triển trên môi trường chọn lọc. Sợi nắm phân nhánh có vách ngăn và không có bào tử đính.
Bào tử có mau nâu hình chữ nhật, hình vuông, hình bầu dục, hình tròn hoặc hình que, kích thước 3 —6 x 5 - l5 um. Soi nam rộng 6 — 10 pm (Natrass, 1933).4 Triệu chứng gây hại của nam Neoscytalidium dimidiatum trên thanh long Vết bệnh ban đầu là chấm trắng nhỏ, hơi lõm trên bề mặt sau đó lồi lên, chuyển sang nâu đỏ, liên kết lại thành khối làm hư bề mặt cành và trái thanh long (15 — 20 ngày). Bệnh thường xuất hiện gây hại ở bộ phận như: cành non, cành bị thiếu vi lượng, trái non và trái gần chín 1,5 — 2 ngày sau khi mưa hay trời nhiều sương mù. Bệnh còn tạo điều kiện cho các nắm bệnh khác phát triển như: thối cành, thán thư cành và trái.2 Triệu chứng gây hại trên trái chín và trên cành non (Nguồn: Võ Thị Thu Oanh, 2014) 1.
Các điều kiện phát sinh, phát triển bệnh Bệnh xuất hiện nhiều vào mùa mưa, hại nặng trên cành, lây lan theo chiều ngọn và gây thối cảnh do bội nhiễm khuẩn. Bệnh lây lan trên trái làm giảm giá trị thương phẩm. Bệnh có thể lây lan theo chiều gió và nguồn nước. Phát sinh nhiều ở những vườn ít được vệ sinh thường xuyên, những vườn bón phân chuồng chưa hoai, dùng nước đọng đề tưới cho cây, những vườn thanh long bị thiếu vi lượng.
Bệnh phát triển nhanh lúc trời có độ âm cao, mây mù và thời gian chiếu sáng ít. Lây nhiễm và biểu hiện ở bộ phận non và cảnh non vừa nhú. Thời gian ủ bệnh từ 10 - 15 ngày. Vết bệnh biéu hiện ra ngoài khi độ âm không khí > 85%, bề mặt cành va trái có đọng nước và thời gian ủ tối > 4 tiếng.
Nguồn lưu tồn: Neoscytalidium dimidiatum chang những có mặt trên thân, cành, lá, hoa, quả thực vật mà còn tôn tại cả trong đất.6 Biện pháp phòng trừ Quy trình quan lý bệnh đốm nâu thanh long (Neoscytalidium dimidiatum) dựa trên nguyên tắc áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (Bộ NN & PTNT, 2018).1 Biện pháp giống Khi có nhu cầu trồng mới, nên lựa chọn hom giống khỏe từ những vườn thanh long không bị nhiễm bệnh hoặc mua từ những cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh cây giống có uy tín.2 Biện pháp vệ sinh đồng ruộng Thu gom và tiêu hủy triệt để các bộ phận cây bị nhiễm bệnh. Tuyệt đối không được vứt bỏ trên mặt líp hay quăng xuống mương nước do mầm bệnh có khả năng tồn tai lâu dai trong môi trường tự nhiên và sẽ lây lan khi gặp điều kiện thuận lợi. Ô bệnh (vết đồng xu) có khả năng sống xót đến 220 ngày nếu quăng trong vườn.3 Biện pháp canh tác Vườn trồng phải có hệ thống tiêu thoát nước nhanh khi có mưa to, mực nước mương nên cách lip ít nhất từ 40 — 50 cm, xẻ rãnh thoát nước tốt nhằm tránh ngập tng cục bộ đối với những vùng có địa hình không bằng phẳng. Đối với những vườn trồng mới, cần chú ý đến yêu cầu kỹ thuật trong việc thiết kế vườn trồng để đảm bảo sự bền vững về lâu đài.
Cắt tỉa bớt cành già, cành vô hiệu bên trong tán để tạo điều kiện thông thoáng, giảm áp lực nguồn bệnh lây lan. Mức độ cắt tỉa cành tùy thuộc vào tuôi cây và độ dày của tán cây, duy trì số lượng cành vừa đủ trên cây khoảng 180 — 220 cành/trụ (tương ứng với mức cắt tỉa 25 — 40% tán cây) (chừa 2 — 3 lớp cành/trụ) đối với vườn ở giai đoạn kinh doanh ôn định (trên 5 năm tuổi). Tiến hành cắt tỉa cành ở thời điểm sau thu hoạch và trong mùa khô, phun khử trùng vết cắt bằng thuốc BVTV có chứa gốc đồng. Hạn chê việc giữ choi non trong mùa mưa vì bệnh thường tân công và gây hại ở vị trí 0 — 20 em tính từ đỉnh chỗi trở vào.
Tưới nước: không tưới nước cho cây lúc chiêu tôi và ban đêm. Tránh sử dụng nguồn nước ô nhiễm bệnh (quăng cành, quả nhiễm bệnh xuống kênh, ao) dé tưới trực tiếp lên tán cây (tưới qua gốc). Bón phân: tùy vào loại đất và giai đoạn sinh trưởng của cây nên có chế độ bón phân hop lý, cân đối N, P, K và trung vi lượng. Liều lượng bón N, P, K theo công thức khuyến cáo 750 N — 1250 P2O5 — 1250 K2O g/trụ/năm kết hợp phân hữu cơ hoai mục, hữu cơ vi sinh (>= 10/tân/ha/năm).
Hạn chế bón quá nhiều phân đạm khi cây dang ra chôi non. Đầu mùa mưa, sử dụng vôi bột bón với lượng từ 0,5 — Ikg/trụ dé cải thiện pH. đồng thời giúp khử trùng đất.