mở đầu Trong chương này chúng tôi sẽ giới thiệu sơ nét về quá trình hình thành và phát triển của ngành tin sinh học nói chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về việc tăng tốc so trùng chuỗi DNA và bố cục của báo cáo 1. Cơ sở sinh học Các phân tử sinh học như axit deoxyribonucleic acid (DNA), ribonucleic acid(RNA), protein, carbohydrate và lipid là nền tảng của các tổ chức tế bào và sự tương tác phức tạp giữa chúng quyết định các đặc tính khác nhau của sinh vật sống. Những phân tử sinh học này cho phép nhiều quá trình sinh học diễn ra theo các cách xác định trước để duy trì sự sống ở cấp độ tế bào (Kitano, 2002; Noble, 2002). Các vật liệu di truyền (như DNA và RNA) được quy định chặt chẽ trong mỗi thực thể sinh học.
Cùng với hoạt động sống, các sinh vật phải tiếp xúc với các tác nhân sinh hóa khác nhau (bên trong hoặc bên ngoài) gây ra đột biến lên cấu trúc di truyền. Ngoài ra, sự thay đổi điều kiện sống trong thời gian dài cũng co thể dẫn đến các biến dị khởi nguồn cho sự tiến hóa của sinh vật. Các biến dị này, có thể được điều chỉnh hoặc không có khả năng điều chỉnh bởi các cơ chế sinh học, truyền lại cho các thế tiếp theo thông qua gen. Do sự điều tiết ở cấp độ phân tử là điều cần thiết để duy trì sự sống ở cấp độ tế bào, các vấn đề ở cấp độ phân tử thường dẫn đến thay đổi sinh lý cũng như sự hình thành các cấu trúc sinh học của cơ thể, từ đó ảnh hưởng đến cân bằng giữa sinh vật và điều kiện sống của chúng.
Cuộc sống của một sinh vật được ánh xạ trong bộ gen của nó, gen là một chuỗi axit nucleic, đại diện cho một đặc điểm chức năng của toàn bộ gen. Mỗi mã gen cho mã hóa cho một bộ protein xác định. Các quá trình tế bào như nhân bản hoặc cái chết của tế bào đều được lập trình và mã hóa trong bộ gen của các sinh vật. Với sự phát triển gần đầy của ngành công nghệ sinh với thành tự lớn lao nhất là sự mã hóa hoàn chỉnh bản đồ của bộ gen người, lần đầu tiên, con người có cơ hội mở ra các phát kiến liên quan đến gen trong chuỗi các tiến trình dẫn đến sự phát triển của một sinh vật cũng như nguyên nhân của các bệnh khác nhau.
RNA là sản phẩm của quá trình phiên mã DNA và sau đó được dịch thành polypeptide, được gấp lại thành một dạng đại phân tử chức năng gọi là protein tham gia thực hiện nhiều chức năng trong sinh vật (Wikipedia). Bất kỳ đột biến nào trong DNA, nếu không được sửa chữa bởi các polymerase (có thể được hiểu như chất xúc tác hay cơ chế điều tiết quá trình sửa chữa và nhân bản DNA) khác nhau, có thể dẫn đến sự phiên mã của RNA bị lỗi dẫn đến một protein bị dịch 1 sai so với hoạt động ban đầu của nó. Điều này có thể gây ra các vấn đề lớn như tập hợp protein và protein bị sai lệch, không thể phân hủy và dẫn đến các bệnh gây tử vong. Từ những cơ sở thực tiễn trên, ngành tin sinh học (bioinformatic) ra đời với vai trò phát triển khả năng phân tích và đánh giá các diễn biến sinh học dựa trên các các dữ liệu thực tế mà so trùng chuỗi được xem như một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của ngành.
Lĩnh vực này cung cấp các kỹ thuật và công cụ để đánh giá sự sai lệch giữa hai hay nhiều chuỗi DNA, RNA kết hợp với các kỹ thuật phân tích để đưa ra các kết luận hoặc nghiên cứu về biến dị và tiến hóa sinh học. Thời kỳ đầu trong lịch sử sinh học, các bộ dữ liệu rất nhỏ và có thể quản lý được. Hầu hết các nhà sinh học có thể phân tích dữ liệu của riêng họ sau khi tham gia khóa học thống kê, sử dụng Microsoft Excel trên máy tính để bàn cá nhân. Tuy nhiên, khi ngày càng nhiều bộ gen của sinh vật bậc cao được giải mã (đặc biệt là bộ gen người), các bộ dữ liệu lớn được cung cấp rộng rãi và ngày càng trở nên phổ biến hơn trong các nghiên cứu về sinh học trong tương lai.
Phân tích dữ liệu này cần các công cụ khác nhau, các kỹ năng mới và nhiều máy tính có dung lượng bộ nhớ, sức mạnh tính toán cũng như là dung lượng ổ đĩa lớn. Tác động của ngành máy tính đối với nghiên cứu sinh học Những tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của các kỹ thuật và thiết bị tính toán, đã giúp làm sáng tỏ trình tự và cấu trúc của các đại phân tử sin học. Năm 1977, Gilbert và Sanger đã phát triển một phương pháp giải trình tự DNA, quy trình chấm dứt chuỗi enzyme và báo cáo trình tự bộ gen hoàn chỉnh của vi khuẩn fX174 (Sanger et al. Năm 1986, Leroy Hood và các đồng nghiệp đã thiết kế bộ tách chuỗi DNA bán tự động đầu tiên bằng phương pháp của Sanger cho phép khả năng giải mã trình tự DNA nhanh chóng.
Năm 1990, dự án giải mã bộ gen của con người song song với các dự án giải mã bộ gen của nhiều sinh vật khác nhằm mục đích sắp xếp xây dựng ngân hàng gen (GenBank) của tất cả các loài sinh vật được triển khai (Cantor, 1990; Watson, 1990). Tính đến tháng 8 năm 2005, GenBank chứa khoảng 47 triệu chuỗi DNA khác nhau (Benson et al., 2005) và vẫn còn nhiều bộ gen đang tiếp tục được giả mã. Sơ lượng trình tự bộ gen đã và đang được giả mã dẫn đến một lượng lớn dữ liệu cần được xử lý. Xử lý và đánh giá được các dữ liệu này ảnh hưởng đến việc tìm hiểu cấu trúc và chức năng sinh học, sự tương tác và điều hòa của protein là điều cần thiết để hiểu được các quá trình của tế bào.
Trong thế kỷ này, sự phát triển công nghệ và thiết bị tính toán đã cho phép các nhà khoa học có các công 2 cụ cần thiết để nghiên cứu các hệ thống và quy trình sinh học phức tạp. Những nghiên cứu như vậy sẽ làm sáng tỏ hơn quá trình phức tạp bên dưới mọi sinh vật sống. Ngoài các tác động tích cực trong việc cải thiện lưu lượng và tốc độ tính toán, từ đó mở ra triển vọng nghiên cứu sâu rộng các bộ gen phức tạp, sự phát triển của các thiết bị và kĩ thuật tính toán cũng góp phần giảm chi phí tính toán trên mỗi đơn vị. Ở giai đoạn đầu, việc giải mã trình tự gen có tốc độ rất thấp với chi phí cực kỳ tốn kém.
Toàn bộ nỗ lực giải trình tự bộ gen rất tốn kém (chi phí cần cho việc giải mã bộ gen của con người vào khoảng 2,7 tỷ USD) và chỉ có thể thực hiện được thông qua những nỗ lực hợp tác giữa nhiều quốc gia. Kể từ khi hoàn thành bộ gen người, chi phí giải trình tự đã giảm theo cấp số nhân cho đến khoảng năm 2008. Với sự ra đời của các công nghệ giải trình tự thế hệ tiếp theo , chi phí giải mã trình tự các bộ DNA lớn thậm chí còn giảm nhanh hơn. Tại thời điểm hiện tại, đã nhiều kỹ thuật tính toán phù hợp được cung cấp để giải mã trình tự các tổ hợp gen lớn với giá thành hợp lý (mặc dù vẫn còn khá cao cho các nhà nghiên cứu sinh học độc lập hay phòng thí nghiệm nhỏ) có thể chấp nhận bởi các công ty hay phòng nghiên cứu lớn.
Tuy nhiên, chi phí này đang và sẽ tiếp tục giảm nhanh chóng. Gordon Moore (một đồng sáng lập của Intel) đã quan sát thấy rằng số lượng bóng bán dẫn trong chip máy tính tăng gấp đôi sau mỗi hai năm. Nhiều bóng bán dẫn trên mỗi chip cung cấp tốc độ tính toán nhanh hơn trong bộ xử lý máy tính cùng với việc mật độ phần tử trong bộ nhớ ngày càng dày đặc hơn và nhanh hơn trong máy tính, điều này dẫn đến các máy tính có khả năng tính toán mạnh hơn. Sức mạnh tính toán tăng trên mỗi đơn vị tính toán cũng như giá thành làm giảm nhanh chóng chi phí tính toán cho các bài toán so trùng chuỗi sinh học.1 cho thấy giai đoạn trước năm 2007, đường chi phí tính toán giảm tiệm cận với định luật Moore.
Sự phát triển này còn khả quan hơn sau năm 2008 khi NGS ra đời. Cùng với việc công bố hàng loạt giải thuật thuộc NGS, chi phí cần cho việc tính toán so trùng chuỗi giảm rất mạnh so với định luật Moore như được minh hoạ trong Hình 1.1, hứa hẹn cung cấp một chi phí thấp cho các nhà nghiên cứu độc lập hay các phòng thí nghiệm nhỏ đến từ bất kỳ quốc gia nào mong muốn phát triển các kỹ thuật di truyền.1 Biểu đồ tương quang giá trị giải mã chuỗi DNA với định luật Moore 1. Phân tích sinh học và hạn chế của bộ xử lý đa dụng Sự ra đời của các giải thuật NGS cùng với sự phát triển nhanh chóng sức mạnh tính toán của các bộ xử lý đã mở rộng phạm vi các đối tượng tham gia vào lãnh vực nghiên cứu tính toán sinh học. Hệ quả là cơ sở dữ liệu sinh học phát triển nhanh chóng.
Nếu thời gian cần thiết để tăng gấp đôi số lượng bóng bán dẫn trên một con chip xử lý là hai năm thì thời gian cần cho kích thước của các cơ sở dữ liệu sinh học tăng một lượng tương ứng chỉ bằng một nửa. Mặc dù sự phát triển không ngừng của các giải thuật so trùng chuỗi cũng hạn chế phần nào sự chênh lệch này, nhưng không may là để có thể tăng (hoặc giữ nguyên) hiệu suất tính toán trên các tập dữ liệu ngày càng lớn (trong bối cảnh định luật Moore ngày càng không chính xác) các giải thuật mới ra đời đều dựa trên các heuristic (kinh nghiệm) khác nhau. Vì cải tiến các giải thuật dựa vào heuristic giúp giảm khối lượng tính toán cũng như khối lượng bộ nhớ cần lưu trữ dữ liệu, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế: - Áp dụng heuristic có thể đánh đổi tính chính xác với hiệu suất xử lý so với các giải thuật chất phác. Trong hầu hết các trường hợp, các nhà nghiên cứu phải chấp nhận sai số trong giới hạn cho phép.
- Heuristic có thể chỉ áp dụng tốt cho các bộ DNA có các đặc trưng riêng biệt. Hay nói các khác, giải thuật có thể được áp dụng tốt khi phân bộ DNA của loài (hay nhóm loài) này, nhưng lại không dùng được cho loài (hay nhóm loài) khác.