CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ IoT VÀ CÔNG NGHỆ MẠNG ĐỊNH NGHĨA BẰNG PHẦN MỀM 1.1 Tổng quan về công nghệ IoT Internet of Things (IoT) là thuật ngữ dùng để chỉ các đối tượng có thể được nhận biết cũng như sự tồn tại của chúng trong một kiến trúc mang tính kết nối. Đây là một viễn cảnh trong đó mọi vật, mọi con vật hoặc con người được cung cấp các định danh và khả năng tự động truyền tải dữ liệu qua một mạng lưới mà không cần sự tương tác giữa con người-với-con người hoặc con người-với-máy tính. IoT tiến hoá từ sự hội tụ của các công nghệ không dây, hệ thống vi cơ điện tử (MEMS) và Internet. Cụm từ này được đưa ra bởi Kevin Ashton vào năm 1999.
Ông là một nhà khoa học đã sáng lập ra Trung tâm Auto-ID ở đại học MIT [1-2].1 Internet kết nối vạn vật 4 "Thing" - sự vật - trong Internet of Things, có thể là một trang trại động vật với bộ tiếp sóng chip sinh học, một chiếc xe ô tô tích hợp các cảm biến để cảnh báo lái xe khi lốp quá non, hoặc bất kỳ đồ vật nào do tự nhiên sinh ra hoặc do con người sản xuất ra mà có thể được gán với một địa chỉ IP và được cung cấp khả năng truyền tải dữ liệu qua mạng lưới.2 Sự gia tăng nhanh chóng của giao tiếp máy-máy Hình 1.3 Ứng dụng tủ lạnh trong IoT IoT phải có 2 thuộc tính: một là đó phải là một ứng dụng internet. Hai là, nó phải lấy được thông tin của vật chủ. Một ví dụ điển hình cho IoT là tủ lạnh thông minh, nó có thể là một chiếc tủ lạnh bình thường nhưng có gắn thêm các cảm biến bên trong giúp kiểm tra được số lượng các loại thực phẩm có trong tủ lạnh, cảm biến nhiệt độ, cảm biến phát hiện mở cửa,…và các thông tin này được đưa lên internet. Với một danh mục thực phẩm được thiết lập trước bởi người dùng, khi mà 5 một trong các loại thực phẩm đó sắp hết thì nó sẽ thông báo ngay cho chủ nhân nó biết rằng cần phải bổ sung gấp, thậm chí nếu các loại sản phẩm được gắn mã ID thì nó sẽ tự động trực tiếp gửi thông báo cần nhập hàng đến siêu thị và nhân viên siêu thị sẽ gửi loại thực phẩm đó đến tận nhà.2 Yêu cầu của IoT đối với hạ tầng và các thiết bị truyền thông Đối với bất kỳ mạng truyền thông nào, kiến trúc phân lớp đảm bảo tính linh hoạt và khả năng thiết lập các dịch vụ mới trong mạng, kiến trúc IoT theo kiến trúc phân lớp.
Do IoT bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, kiến trúc và các thành phần của IoT không hội tụ nhưng kiến trúc IoT thành công nhất là IoT-A. Nhiều mô hình kiến trúc IoT khác cũng có trong thị trường nhưng phổ biến nhất là kiến trúc bốn lớp (như minh họa trên Hình 1.4) [3]: Tầng cảm biến: Tầng cảm biến là lớp đối tượng vật lý bao gồm cảm biến, thiết bị truyền động, RFID, thiết bị di động, động cơ, Bluetooth,. Tầng này thu thập dữ liệu từ môi trường và truyền trên rìa của mạng, nghĩa là gateway hoặc sink. Tầng mạng: Tầng này chịu trách nhiệm truyền dữ liệu từ vật thể tới gateway/biên của mạng để tiếp tục xử lý thông tin thu thập được.
Các công nghệ truyền khác nhau góp phần tạo ra sự không đồng nhất của IoT như ZigBee, Bluetooth, Wi-Fi,. Tầng ứng dụng: Tầng này xử lý ứng dụng / dịch vụ theo yêu cầu người sử dụng thao tác thông tin thu thập được từ lớp nhận thức và xử lý trong hệ thống xử lý. Tầng middleware: Các thiết bị IoT khác nhau trong một miền có thể khác nhau nhưng các thiết bị có thể tương tác với một thiết bị tương thích/giống nhau. Tầng này dịch thông điệp của một thông tin dịch vụ mà không quan tâm đến chi tiết phần cứng.
Lớp Middleware được kết hợp với quản lý dịch vụ, giải quyết và đặt tên cho dịch vụ được yêu cầu.4 Kiến trúc IoT-A Bên cạnh các lớp chính này, có nhiều thành phần đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, xử lý và quản lý thông tin của IoT. Thành phần edge chịu trách nhiệm cung cấp thông tin qua Internet. Các dịch vụ này có thể là dịch vụ tên miền, mạng phân phối nội dung, tường lửa, cân bằng tải,. Các thành phần dịch vụ Analytics hướng dẫn và tự động hóa quá trình phân tích, phát hiện và hình dung dữ liệu.
Các dịch vụ quản lý quy trình giúp quản lý luồng công việc xử lý thông tin và kết nối thiết bị với các dịch vụ tương ứng. Dịch vụ nhận dạng thiết bị xác định người dùng đăng ký dịch vụ trên thiết bị. Dịch vụ xác thực cho phép xác thực người dùng đăng ký với dịch vụ liên quan của nó. Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) giúp cung cấp kiến trúc trừu tượng từ các chi tiết cơ bản và cung cấp các dịch vụ cần thiết.
Lựa chọn kết nối Internet cho IoT thay đổi đáng kể tùy thuộc vào từng mục đích và thiết bị cụ thể, ví dụ trong hệ thống mạng liền kề có các yêu cầu khác nhau về hiệu năng và mức độ dịch vụ giữa các hệ thống quản lý và đám mây dữ liệu. Các lựa chọn kết nối điển hình sẵn có ở các khu vực đô thị khác với các lựa chọn được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ ở khu vực nông thôn và chất lượng, độ tin cậy và lưu lượng sẽ có sự phân biệt rõ rệt. Vì vậy, một công nghệ truyền thông thích 7 hợp cho kết nối IoT mang tính thực tế và khả thi về mặt tài chính đối với các dự án yêu cầu đòi hỏi hiệu năng cao của liên kết giữa các trạm từ xa, trụ sở chính và các giao diện của trung tâm dữ liệu cần xem xét các vấn đề về độ khả dụng, băng thông, chi phí, khả năng quản lý, QoS, SLA và độ tin cậy [4-5].1 Các yêu cầu của truyền thông IoT a) Các phương thức truyền dữ liệu phù hợp Để kết nối trên diện rộng và khoảng cách xa, thực chất các thiết bị trong thế giới Internet of Things sẽ phải tận dụng rất nhiều kênh truyền tải dữ liệu không dây khác nhau [6]. Trong đó sẽ bao gồm cả mạng điện thoại di động, mạng vệ tinh, một số công nghệ mới như Weightless, LPWAN.
Lưu ý khái niệm kênh truyền tải này khác với các “giao thức” giúp các thiết bị nói chuyện được với nhau đã nêu ở trên. Bạn đọc có thể tưởng tượng mỗi kênh truyền sóng giống như một loại cáp (cáp đồng – cáp quang – cáp Ethernet dùng trong gia đình) khác nhau để dễ hình dung. Điều quan trọng là mỗi công nghệ phát sóng sẽ có lợi thế riêng tùy vào hoàn cảnh sử dụng, vì vậy người ta sẽ phải sử dụng kết hợp chúng.5 Các phương thức truyền thông đa dạng trong IoT b) Sự cần thiết của Hub và Gateway 8 Tuy mô hình mạng dạng lưới đã nói ở trên có rất nhiều lợi thế. Nhưng rào cản lớn nhất là sự khác biệt giữa các kênh truyền dữ liệu và các bộ giao thức.
Ví dụ như việc các thiết bị được thiết kế để giao tiếp với nhau bằng ZigBee sẽ gặp khó khăn khi cần trao đổi với dữ liệu với “ngôn ngữ” Z-Wave. Các thiết bị chỉ có thể phát sóng radio tầm gần sẽ khó mà kết nối được với mạng vệ tinh hay trạm phát sóng của mạng điện thoại di động. Vì vậy thực tế trong thế giới mạng Internet of Things ta vẫn cần các thiết bị trung gian, tương tự các hub hay gateway trong hệ thống mạng dây hiện nay – và đây chính là một trong những bước mấu chốt để trào lưu IoT bùng nổ. Theo nhiều dự đoán, các chức năng này sẽ dần được tích hợp thẳng vào các router phổ thông, các thiết bị đầu cuối mà ISP hay hãng truyền hình cung cấp cho người dùng, hay thậm chí là tồn tại trong các sản phẩm như Google Chromecast.
c) Công suất thiết bị Các tiêu chí hình thức chính của thiết bị khi triển khai các kết nối IoT là phải giá thành thấp, mỏng, nhẹ…và như vậy phần năng lượng nuôi thiết bị cũng sẽ trở nên nhỏ gọn lại, năng lượng tích trữ cũng sẽ trở nên ít đi. Do đó đòi hỏi thiết bị phải tiêu tốn một công suất cực nhỏ (Ultra Low Power) để sử dụng nguồn năng lượng có hạn đó. Bên cạnh đó yêu cầu có những giao thức truyền thông không dây gọn nhẹ hơn, đơn giản hơn, đòi hỏi ít công suất hơn (Low Energy Wireless Technologies) như Zigbee, BLE (Bluetooth low energy), ANT/ANT+, NIKE+,.2 Yêu cầu đối với thiết bị truyền thông trong IoT a) Chi phí thấp Chi phí luôn luôn quan trọng trong thiết kế IoT và khi xem xét công nghệ WAN công suất thấp [6]. Lý do cơ bản là khi xem xét các ứng dụng truy nhập từ xa, các nhà thiết kế sẽ dự đoán một yêu cầu cho hàng trăm thiết bị đầu cuối, cảm biến, bộ truyền động.
Ví dụ như khi chúng ta xem xét một dự án thành phố IoT sáng kiến cho quản lý giao thông thông minh, hàng triệu thiết bị đầu cuối có thể được triển 9 khai trên một diện rộng. Do đó, nhà thiết kế phải xem xét vốn và chi phí hoạt động của một công nghệ WAN công suất thấp khi nhúng vào thiết bị. b) Tiêu thụ ít năng lượng Một điểm quan trọng nữa trong thiết là mức độ tiêu thụ năng lượng của công nghệ WAN. Cũng như chi phí, thiết kế sẽ yêu cầu rất nhiều các nút đầu cuối và mỗi một nút sẽ có yêu cầu nguồn năng lượng riêng.
Vấn đề với truyền thông không dây vô tuyến là phải mất rất nhiều năng lượng để truyền tải một tín hiệu và hầu hết các nút đầu cuối được hỗ trợ bởi các nguồn pin có tuổi thọ ngắn. Ví dụ như việc chúng ta tưởng tượng đến viễn cảnh phải theo dõi, quan lý và thay hàng triệu viên pin trong các thiết bị đầu cuối của một hệ thống quản lý giao thông trong kiến trúc thành phố thông minh. c) Tầm hoạt động Phạm vi hoạt động của công nghệ kết nối Internet mang lại lợi ích về chi phí và hiệu năng. Điều này có thể được thể hiện bằng sự cần thiết của một thiết bị biên kết nối thông qua một điểm truy cập hoặc một giao thức gateway nằm giữa các nút cuối và Internet hoặc một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong các công nghệ không dây.
Càng cần có ít giao thức gateway và các điểm truy nhập, thiết kế càng trở nên hiệu quả và giảm chi phí của toàn bộ hệ thống.