đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp, và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Mục đích của chương này nhằm trình bày hệ thống các khái niệm, lý thuyết về hàm cầu, các mô hình thực nghiệm cùng với những nghiên cứu gần đây trong việc xây dựng, đánh giá các hàm cầu hàng hóa. Các hàm cầu Marshallian, hàm cầu Hicksian cùng với các độ co dãn của các hàm cầu được tính theo các mô hình cầu thực nghiệm sẽ được tập trung lược khảo trong chương này nhằm làm nền tảng cho việc phân tích trong các chương tiếp theo.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Trong chương này sẽ thảo luận về khuôn khổ lý thuyết của ba hệ thống nhu cầu khác nhau, và sau đó ước tính độ co giãn của cầu đối với sữa tươi ở Việt Nam bằng cách sử dụng hệ thống nhu cầu khác nhau. Kết quả ước tính sẽ dựa trên mô hình nào cho kết quả tốt nhất. Mô hình Working-Leser ; Rotterdam và hệ thống nhu cầu gần như lý tưởng (AIDS) là ba loại hệ thống nhu cầu đã được phát triển cao và sử dụng rộng rãi nhất trong việc dự đoán hành vi của người tiêu dùng qua thời gian qua.
Chƣơng 4: Ƣớc lƣợng độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập của từng loại sữa ở Việt Nam. Chương này sẽ tập trung vào vào phân tích các biến nhân khẩu học có tác động tới lượng tiêu dùng của từng loại sữa ở Việt Nam và ước lượng độ co giãn của cầu theo giá riêng, giá chéo và theo thu nhập của từng loại sữa và. Nội dung bao gồm: (i) tỷ trọng chi tiêu cho sữa theo các đặc tí nh hộ như tuổi, giới tính của chủ hộ, phân vị thu nhập của hộ, vùng và khu vực nơi hộ sinh sống. Từ 6 đó, tính toán các độ co giãn của từng loại sữa theo giá và thu nhập, rút ra ý nghĩa thực tiễn của độ co giãn trong tình hình bối cảnh ở Việt Nam.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu. Đồng thời, vận dụng những kết quả này vào các tình huống thực tế. Từ đó, có những kiến nghị chính sách về quản lý tình hình tiêu dùng sữa.
Ngoài ra, chương này còn đánh giá lại những điểm mới cũng như những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo. Sau cùng, luận văn cũng đính kèm phần phụ lục để chứng minh chi tiết hơn cho những kết quả phân tích đã được trình bày trong các chương. 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương này nhằm mục đích trình bày hệ thống các khái niệm, lý thuyết về cầu, hàm cầu và độ co giãn của cầu. Ngoài ra trong chương này cũng tóm tắt một số nghiên cứu liên quan cả trong và ngoài nước để có cơ sở cho việc so sánh, đối chiếu với kết quả trong các chương tiếp theo.1 Lý thuyết cầu Cầu là số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được.
Thu nhập của cá nhân (người tiêu dùng) và giá cả hàng hóa là những nhân tố giới hạn lợi ích mà người tiêu dùng có thể đạt được. Giả định của lý thuyết lợi ích tập trung vào thu nhập dùng để chi tiêu và giá cả hàng hóa tiêu dùng. Các cá nhân quyết định số lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng để “tối đa hóa lợi ích”. Giả định tối đa hóa lợi ích là một cách diễn đạt cho vấn đề kinh tế cơ bản.
Các mong muốn của người tiêu dùng thì luôn vượt quá nguồn lực cung cấp để thỏa mãn những mong muốn này. Vì vậy, người tiêu dùng phải đưa ra các quyết định lựa chọn. Trong việc đưa ra quyết định lựa chọn, người tiêu dùng cố gắng tối đa hóa lợi ích có thể đạt được. Điều này có nghĩa là các cá nhân đưa ra các quyết định tiêu dùng sao cho tối đa hóa lợi ích trong giới hạn ngân sách tiêu dùng.
Như vậy qua các khái niệm cầu ta thấy, hai nhân tố quan trọng trong khái niệm về cầu hàng hóa hay dịch vụ chính là khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người tiêu dùng. Thiếu một trong hai nhân tố trên đều không thể hình thành nên cầu về hàng hóa hay dịch vụ đó. Cầu: Cầu không phải là một số lượng cụ thể mà là một sự mô tả toàn diện về các hàng hóa mà người mua có thể mua ở các mức giá chấp nhận được trong một khoảng thời gian xác định khi mà các yếu tố khác không đổi. Nhu cầu: Là những nguyện vọng, những mong muốn vô hạn của con người mà chính sự khan hiếm làm cho nhu cầu của con người không được thoả mãn.
Lượng cầu: Là lượng hàng hoá mà người mua sẵn sàng mua và có khả năng mua ở một mức giá xác định trong một thời gian nhất định.1 Luật cầu, Biểu cầu, Đƣờng cầu, Hàm số của cầu.1 Luật cầu Theo McConnell (2005;45:1-8) khi giá giảm thì lượng cầu sẽ tăng và khi giá tăng thì lượng cầu sẽ giảm. Tại sao giá và lượng cầu lại có mối quan hệ nghịch đảo như vậy được giải thích như sau: Thứ nhất, trong bất kỳ một khoảng thời gian cụ thể nào, khách hàng mua một sản phẩm thì sẽ nhận được một sự hài long thỏa mãn thấp hơn từ mỗi đơn vị kế tiếp của sản phẩm mà họ tiêu dùng. Sản phẩm thứ hai sẽ mang lại cho người tiêu dùng sự hài lòng ít hơn so với sản phẩm thứ nhất và sản phẩm thứ ba cũng mang lại sự thỏa mãn ít hơn so với sản phẩm thứ hai. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật lợi ích cận biên giảm dần.
Người tiêu dùng sẽ mua đơn vị tiếp theo khi giá của đơn vị đó đang giảm dần. Thứ hai, cũng có thể giải thích luật cầu trên cơ sở hiệu ứng thu thập và hiệu ứng thay thế. Hiệu ứng thu thập chỉ ra rằng khi thu thập tăng thì người tiêu dùng sẽ mua nhiều sản phẩm hơn là trước kia anh ta đã mua. Hiệu ứng thay thế với gợi ý rằng, khi giá tăng người tiêu dùng sẽ đến với một sản phẩm thay thế tương tự nhưng không đắt như sản phẩm đó.
Biểu cầu là một bảng miêu tả số lượng hàng hoá mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Khái niệm: Là tập hợp những điểm mô tả các số lượng của một hàng hoá mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Cầu cá nhân và cầu thị trường 1) Cầu cá nhân: Mô tả hành vi của từng cá nhân riêng lẻ 2) Cầu thị trường chính là tổng cầu cá nhân 9 P P1 P2 D Q1 Q2 Q Hình 2.1 : Đƣờng cầu Đặc điểm của đường cầu: (i) Đường cầu thường là đường có độ dốc đi xuống về phía tay phải. (ii) Đường cầu biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá.
Giá và lượng cầu luôn có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Luật cầu biểu thị số lượng hàng hoá được cầu trong một khoảng thời gian nhất định tăng lên khi giá của hàng hoá đó giảm xuống trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.4 Hàm số của cầu. a) Hàm Cầu Marshall. Hàm cầu Marshall (còn gọi là hàm cầu Walras) là hàm số biểu diễn quan hệ phụ thuộc của lượng cầu về một mặt hàng vào giá cả của mặt hàng đó, giá của các mặt hàng khác trong tổ hợp hàng mà người mua phải chọn lựa và vào thu nhập của người mua để tối đa hóa thỏa dụng.
Hàm cầu Marshall có thể tìm ra thông qua việc giải bài toán tối đa hóa thỏa dụng. 10 Về mặt công thức toán, hàm cầu Marshall có thể được biểu diễn như sau: X X PX , PY , M trong đó X là lượng cầu về một mặt hàng, PX giá của mặt hàng đó, PY là giá của các mặt hàng khác, và M là thu nhập của người mua. Giá cả của các mặt hàng khác và thu nhập được xem là biến ngoại sinh. Khi biểu diễn hàm cầu Marshall bằng hình vẽ, các nhà kinh tế học sử dụng đường cầu Marshall.
Đây là một đường dốc xuống phía phải trên đồ thị hai chiều mà trục hoành là tập hợp các lượng cầu và trục tung là tập hợp các mức giá của bản thân mặt hàng đó. Ở đây giả định mặt hàng đang xem xét là hàng hóa thông thường. Khi giá mặt hàng tăng lên, lượng cầu giảm đi; như có thể thấy qua sự dịch chuyển dọc theo đường cầu. Khi thu nhập của người mua tăng lên, người ta tiêu dùng nhiều hơn; đường cầu dịch chuyển hẳn sang phải và lượng cầu tăng lên đối với mỗi mức giá.
Khi giá cả của mặt hàng khác tăng lên, đường cầu cũng sẽ dịch chuyển, song dịch sang hướng nào còn phụ thuộc vào việc mặt hàng khác đó là hàng bổ sung hay hàng thay thế cho mặt hàng đang xem xét. Nếu là hàng bổ sung, thì đường cầu dịch sang trái, lượng cầu giảm đi đối với mỗi mức giá của mặt hàng đang xem xét. Còn nếu là hàng thay thế, thì đường cầu dịch sang phải, lượng cầu tăng lên với mỗi mức giá của mặt hàng đang xem xét. b) Hàm Cầu Hicks.
Hàm cầu Hicks (còn gọi là hàm cầu bù đắp, hàm cầu thỏa dụng cố định) là hàm số cho biết với mỗi mức giá cả hàng hóa và một mức thỏa dụng xác định trước thì người tiêu dùng tối thiểu hóa chi tiêu sẽ có lượng cầu về tổ hợp hàng hóa bằng bao nhiêu. Biểu diễn dạng công thức toán, hàm cầu Hicks sẽ là: X h P, U (2.1) trong đó X là lượng cầu, P là mức giá cả, Ū là mức thỏa dụng cố định. Điểm khác biệt giữa hàm cầu Hicks và hàm cầu Marshall chính là hàm cầu Hicks lấy mức thỏa dụng là cố định trong khi hàm cầu Marshall lấy thu nhập là cố 11 định. Hàm cầu Hicks có thể lập ra qua việc giải bài toán tối thiểu hóa chi tiêu.
Còn hàm cầu Marshall có thể lập ra qua việc giải bài toán tối đa hóa thỏa dụng. Sự thay đổi của lượng cầu Hicks theo sự thay đổi của mức giá thể hiện qua đường cầu Hicks.2 Cầu cá nhân và Cầu thị trƣờng.