Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Truyện trạng xứ Nghệ nhìn từ góc độ nội dung Chương 3: Truyện trạng xứ Nghệ nhìn từ góc độ nghệ thuật Chương 4: Truyện trạng xứ Nghệ từ góc nhìn so sánh Phần kết luận 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Truyện trạng trong môi trƣờng văn hoá dân gian xứ Nghệ Văn hóa dân gian mỗi vùng, miền tựa như cái nôi cho sự hình thành và phát triển những hiện tượng văn hóa đặc sắc của vùng ấy. Môi trường văn hóa dân gian xứ Nghệ với những nét đặc thù là cội nguồn hun đúc, có vai trò to lớn đối với sự phát sinh và khởi sắc của tiểu loại truyện trạng xứ Nghệ. Mỗi một vùng đất, với vị trí địa lý nhất định, điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ sản sinh ra những vùng văn hóa riêng. Đó là quy luật tác động của môi trường địa - văn hoá tới sự hình thành và chi phối đặc điểm của các giá trị văn hoá, văn học dân gian.
Xứ Nghệ - vùng đất mang “cá tính và phong cách riêng” chính là cái nôi “màu mỡ” để sản sinh ra kho tàng văn hóa, văn học dân gian đồ sộ và phong phú của người dân Nghệ Tĩnh. Theo cách phân chia của GS. Đinh Gia Khánh trong cuốn Các vùng văn hoá Việt Nam thì xứ Nghệ là 1 trong 9 vùng văn hoá làm nên nền văn hoá Việt bên cạnh các vùng văn hoá: Đồng bằng miền Bắc, Việt Bắc, Tây Bắc, Thuận Hoá, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, miền Nam, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội [38, tr. Còn theo cách phân chia của GS.
Ngô Đức Thịnh trong cuốn Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá thì xứ Nghệ là một tiểu vùng văn hoá, bên cạnh văn hoá xứ Thanh, xứ Huế thuộc vùng văn hoá duyên hải Bắc Trung Bộ - 1 trong 7 vùng văn hoá của cả nước [83, tr.1 Về tên gọi xứ Nghệ Xứ Nghệ là cách gọi dân dã của nhân dân về miền đất Nghệ Tĩnh xưa và hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay. Về mặt địa, văn hóa, xứ Nghệ nằm giữa xứ Thanh và xứ Huế. Đây là vùng đất có từ lâu đời, thậm chí có nhà nghiên cứu cho rằng, xứ Nghệ là cái nôi cội nguồn của dân tộc Việt: “Người Kinh, người Việt ở Nghệ Tĩnh bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa của người Việt - Mường cổ và từ 4000 năm trước đây đã cùng đồng bằng miền Bắc phát triển từ trình độ văn hóa Phùng Nguyên lên trình độ văn hóa Đông Sơn” [38, tr. Về lịch sử tên gọi của vùng đất, theo các tài liệu mà các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về vùng đất này sau nhiều lần tách nhập khác nhau, có thể trình bày giản lược như sau: Thời Bắc thuộc, giai đoạn đế quốc Hán thống trị, xứ Nghệ có tên là Hàm Hoan, đến thế kỷ thứ 3 thì có tên là Cửu Đức, đến thế kỷ thứ 7 thì có tên là Hoan Châu.
Khi nhà Lý lên ngôi (thế kỷ thứ 11), xứ Nghệ có tên là châu Nghệ An, đến thời Hậu Lê (năm 1490) được đổi tên thành xứ Nghệ An và có tên là Nghĩa An trấn dưới triều đại Tây Sơn. Đến thời nhà Nguyễn - Gia Long lại đổi là Nghệ An trấn và đến năm 1931, thời vua Minh Mạng thì Nghệ An trấn lại được tách thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Giai đoạn 1976 - 6 1991, chính quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sát nhập hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành một tỉnh Nghệ Tĩnh. Và cho đến năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại được tách ra làm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày hôm nay.
Khi chưa tách tỉnh, Nghệ Tĩnh là tỉnh có diện tích và dân số lớn nhất cả nước. Theo Đinh Gia Khánh thì “về mặt văn hóa, gộp hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh lại làm một thì hợp lý hơn bởi xứ Nghệ - Nghệ Tĩnh tuy hai mà là một” [38, tr.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Xứ Nghệ nằm giữa vùng xứ Thanh (Thanh Hóa) và xứ Huế, nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam, đường bộ xuyên Việt, thuộc vùng đất ở Bắc Trung Bộ nước ta; đồng thời là dải đất hẹp miền Trung, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp Biển Đông, phía Bắc giáp Thanh Hóa, địa hình trải dài từ Bắc đến Nam khoảng 300 km. Theo chiều ngang, chỗ hẹp nhất trên đất liền của xứ Nghệ là 80 km (địa bàn Hà Tĩnh) và chỗ rộng nhất là 200 km (địa bàn Nghệ An). Do đặc điểm địa hình, dải đất duyên hải xứ Nghệ đã hẹp về chiều ngang lại có rất nhiều đồi núi chia cắt đồng bằng nên việc canh tác của người dân gặp nhiều khó khăn, đất ít lại cằn cỗi.
Địa hình phức tạp nên khí hậu xứ Nghệ vô cùng khắc nghiệt. Mùa hè thì gió mùa tây nam khô nóng từ Lào tràn sang, thổi cồn cột suốt ngày đêm. Thiên nhiên chẳng ưu đãi cho xứ Nghệ, năm nào cũng vậy có rất nhiều đợt giông bão từ Biển Đông tràn vào, lũ lụt ở xứ Nghệ xảy ra thường xuyên như cơm bữa. Cuộc sống của người Nghệ vốn đã khó khăn bởi thiếu những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những dòng sông “đỏ nặng phù sa” lại càng trở nên khó khăn hơn.
Mặt khác, do có nhiều sông núi, xứ Nghệ lại là mảnh đất “phên dậu” để bảo vệ đất nước, là “căn cứ địa” của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân và được mệnh danh là “đất tứ tắc” (bốn bề hiểm trở) trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Và có lẽ, với điều kiện tự nhiên lắm thiên tai, khí hậu quanh năm khắc nghiệt, sản xuất vô cùng khó khăn đấy lại là nền tảng để hình thành nên một kho tàng văn hoá phong phú, mặn mòi, giàu bản sắc, khác hẳn với văn hoá miền Bắc và miền Nam nói chung; khác với xứ Thanh và xứ Huế nói riêng, trong đó có sinh hoạt truyện trạng. Phải chăng truyền thống nói trạng của người dân Nghệ Tĩnh là cách họ “tự vệ” trước thiên nhiên, cuộc sống khốn khó và là động lực để vượt qua bao nhiêu vất vả, đắng cay mà họ phải nếm trải.3 Tính cách con người xứ Nghệ Tính cách con người là sự tích tụ từ những yếu tố của môi trường tự nhiên, tiến trình lịch sử văn hoá. Luôn phải đấu tranh với thiên nhiên, với nhiều lực lượng xâm lược 7 trong cuộc sống mưu sinh cũng như bảo vệ đất nước nên tính cách người Nghệ có những nét độc đáo.
Quanh năm một nắng hai sương vật lộn trên mảnh đất cằn khô đã hun đúc ở người dân xứ Nghệ đức tính chất phác, bình dị và thẳng thắn, đồng thời cũng thể hiện một bản lĩnh, tinh thần nghị lực sống lớn lao “quen chịu đựng gian khổ, làm việc cần cù và sinh hoạt rất tiết kiệm, trong cái gan góc có cái bướng bỉnh, trong cái trung thực có cái thô bạo, trong cái mưu trí có cái liều lĩnh” [38, tr. Chính vì thế, trong nhiều truyện trạng như “Giữ quạt được lâu”, “Giữ dép được lâu”, “Thế vẫn còn hoang”, “Tết thầy”… người Nghệ đã nhìn thẳng vào chính những điểm yếu của mình để mổ xẻ, cười cợt. Ngoài ra, người xứ Nghệ còn nổi tiếng khắp cả nước về truyền thống hiếu học, giỏi giang, thích văn chương, thơ phú với nhiều nhà thơ, nhà văn lớn. Mảnh đất Nghệ Tĩnh vẫn được coi là nơi mà “nhà Nho ho ra chữ”, có những gia đình “sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa” song “cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”, có nhiều “ông nghè, ông cống, sống bởi ngọn khoai, anh học, anh Nho nhai hoài lộc đỗ”.
Bên cạnh đó, theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh thì một trong những nét độc đáo của người Nghệ gắn với đặc thù địa phương mà không thể lẫn với những con người ở những vùng đất khác là giọng nói “người Nghệ còn bảo lưu khá nhiều yếu tố ngôn ngữ Việt cổ hoặc tiền Việt Mường” [83, tr. Chính phương ngữ độc đáo này đã góp phần làm nên bản sắc riêng cho văn học dân gian xứ Nghệ. Nhắc đến xứ Nghệ, nhiều người không thể không thừa nhận đây là cái nôi cách mạng nhiều đời, quê hương của nhiều danh nhân, chí sĩ. Với tinh thần cách mạng, thái độ phản kháng mạnh mẽ của người dân, cộng với vị trí địa lý bốn bề hiểm trở, trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xứ Nghệ là “phên dậu” để chống thù trong giặc ngoài, là mảnh đất chịu nhiều thương tích của chiến tranh với bao nhiêu mưa bom bão đạn của kẻ thù trút xuống.
Và dường như để ứng phó với mọi vất vả, khó khăn và nỗi cơ cực của cuộc sống, người dân xứ Nghệ thích nói trạng và có truyền thống nói trạng. Từ truyền thống nói trạng mà sinh ra sinh hoạt nói, kể truyện trạng và kiểu sinh hoạt này là một loại hình sinh hoạt văn hoá đời thường, phổ biến ở Nghệ Tĩnh.4 Văn học dân gian xứ Nghệ và tiểu loại truyện trạng Kho tàng văn học dân gian xứ Nghệ độc đáo và đa dạng với tất cả các hình thức và thể loại: tục ngữ, ca dao, vè, truyện cười, thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, giai thoại, huyền thoại, tiên thoại, phật thoại… của các dân tộc anh em. Hàng ngàn bài vè được sưu tầm trong 9 tập sách dày dặn rồi đến bộ sách 4 tập Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ mà nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao dày công sưu tầm và biên soạn là một gia sản văn học dân gian khổng lồ đủ để cho mỗi người con xứ Nghệ tự hào về mảnh đất mà mình sinh ra. 8 Sinh sống trên mảnh đất Nghệ Tĩnh, bên cạnh người Việt, dân tộc đông người nhất sống chủ yếu ở đồng bằng còn có các dân tộc khác như Thái, Thổ, Khơ Mú, HMông, Ơ Đu, Chứt sống ở các huyện trung du và miền núi.
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu truyện trạng và hình thức sinh hoạt kể truyện trạng của người Kinh. Như chúng tôi đã nói, với tính cách rắn rỏi, kiên cường, không chịu “bó gói buông tay” trước tai ương địch hoạ, trong gian khó, người Nghệ đã biết đoàn kết nhau lại, yêu thương đùm bọc lẫn nhau để cùng phát triển. Người dân xứ Nghệ đã tìm đến những lối sinh hoạt tập thể vui vẻ, xây dựng cho mình một đời sống tinh thần riêng như là một sự bù đắp cho đời sống vật chất nghèo nàn và kham khổ. Một trong những hình thức bù đắp đấy là sinh hoạt truyện trạng.