Chương I. Tổng quát về hệ thống điều khiển xung. Chương này nêu lên những đặc trưng cơ bản của hệ thống rời rạc, các tính chất của tín hiệu rời rạc và cơ sở toán học để nghiên cứu hệ thống điều khiển xung. Lí thuyết hệ thống điều khiển xung.
Nội dung của chương là trình bày những lí thuyết cơ bản mô tả động học hệ thống điều khiển xung, các phương pháp đánh giá tính ổn định của hệ thống điều khiển xung và chất lượng của quá trình quá độ. Phần phụ lục giới thiệu tổng quát về ngôn ngữ mô phỏng TUTS§IM. Ngôn ngữ này hiện nay đang được sử dụng khá rộng rãi ở Việt Nam. Các đồ thị trong quyển sách này đã được vẽ ra từ kết quả mô phỏng bằng ngôn ngữ TUTSIM.
Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc và đồng nghiệp để nội dung và bố cục của sách được tốt hơn. Thư gớp ý xin gửi về bộ môn Điều khiển tự động, khoa Năng lượng, Trường Đại học bách khoa Hà Nội và Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 70 Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Tác giả xin chân thành cảm ơn. Tác giả CAC CUM TU VIET TAT AID (TT-S) chuyển đổi tương tự số BT biên độ tần số BTL biên độ tần số logarit CCCH cơ cấu chấp hành CQÐC cơ quan điều chỉnh D/A (5-TT) chuyển đổi số tương tự DCD động cơ điện DHX dinh hinh xung DTDC đối tượng điều chỉnh FT phát tốc HBN hệ thống bù nhiễu HCT hệ thống điều chỉnh cực trị HCTr hệ thống điều chỉnh chương trình HOĐ hệ thống điều chỉnh tự ổn định HTC hệ thống tự chỉnh định HTD hệ thống theo đõi HTH hệ thong ho HTHH hệ thống hỗn hợp HTK hệ thống kín HTDB hé théng dac biét HTTT hệ thống thông thường HTTTLT hệ thống tuyến tính liên tục HTƯ hệ thống tối ưu I tich phan KCN khối chức năng KDCH khuếch đại chấp hành LTM liên tục mở rộng PD tỉ lệ vi phân Pi tỉ lệ tích phân.
PID tỉ lệ vi tích phân PT pha tần số PTL pha tần số logarit PTX phần tử xung RL role TBB thiết bị bù TBCD thiết bị đặt giá trị chủ đạo TBCN thiết bị công nghệ TBD thiết bị đo TBDC thiết bị điều chỉnh TBP tần số biên độ pha TBSS thiết bị so sánh TBTC thiết bị tự chỉnh TBTCT thiết bị tìm cực trị TBTTDK thiết bị tính toán điều khiển TTLT tuyến tính liên tục XLT xung lí tưởng PHAN MO DAU KHÁI QUÁT CHUNG VE ĐIỀU KHIỂN §I. CÁC KHÁI NIỆM CO BẢN Trong mọi hoạt động của con người ở bất cứ lĩnh vực nào, bất cứ vị trí nào đều liên quan đến hai từ điều khiển. Trong khoa học tồn tại một ngành khoa học đã và đang phát triển mạnh mẽ gọi là điều khiển học. Điều khiển học là khoa học nghiên cứu về các quá trình thu thập, xử lí tín hiệu và điêu khiển trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, khoa học công nghệ, môi trường thiên nhiên v.
Điêu khiển học chia ra nhiều linh vực khác nhau gồm điều khiển học toán học, điều khiển học sinh học, điều khiển học kỉ thuật, điều khiển học kinh tế v. Điều khiển học kỉ thuật Ya khoa học nghiên cứu về quá trình thu thập, xử lí tín hiệu và điều khiển các quá trình và hệ thống thiết bị ki thuật. của điều khiển hoc kỉ thuật là lí thuyết điều khiển tự động. Cơ sở lí thuyết điều khiển tự động là phần lí thuyết cơ bản của lí thuyết điều khiển tự động.
Khải niệm điều khiển được hiểu là tập hợp tất cả các tác động mang tính tổ chức của một quá trình nào đó nhằm đạt được mục đích mong muốn của quá trình đó. Hệ thống điều khiển mà không có sự tham gia trực tiếp của con người trong quá trình điều khiển được gọi là điều khiển tự động. Điều chỉnh là một khái niệm hẹp hơn của điều khiển, Điều chỉnh là tập hợp tất cả các tác động nhàm giữ cho một tham số nào đơ của quá trình ổn định hay thay đổi theo một. qui luật nào đó.
Tham số này được gọi là tham số cần điều chỉnh. điều khiển tự động chỉ nghiên cứu các quá trỉnh trong hệ thống điều chỉnh tự động. Một hệ thống điều chỉnh tự động bao gồm bai thành phần cơ bản là đối tượng điều chỉnh ĐTDC và thiết bị điều chỉnh TBĐC. ĐTĐC là thành phần tồn tại khách quan cớ tín hiệu ra là đại lượng cần điều chỉnh và nhiệm vụ cơ bản của điều chỉnh là phải tác động lên đầu vào của DTĐC sao cho đại lượng cần điều chỉnh đạt được giá trị mong muốn.
TBĐC là tập hợp tất cả các phần tử của hệ thống nhằm mục dích tạo ra giá trị điều chỉnh tác động lên đối tượng. Giá trị này được gọi là tác động điều chỉnh. Đại lượng cần điều chỉnh còn được gọi là đại lượng ra của hệ thống điều chỉnh tự động. Những tác động từ bên ngoài lên hệ thống được gợi là tác động nhiễu.
Phương pháp dé TBDC tao ra tin hiệu điều chỉnh gọi là phương thức điều chỉnh (điều khiển). Có ba phương thức điều chỉnh là : phương thức điều chỉnh theo chương trình, phương thức bù nhiễu và phương thức điều chỉnh theo sai lệch. Trong phương thức điều chỉnh theo chương trình, tín hiệu điều chỉnh được phát ra do một chương trình định sẵn trong TBĐC. Với phương thức bù nhiếu, tín hiệu điều chỉnh được bình thành khi xuất hiện nhiễu loạn tác động lên hệ thống.
Tín hiệu điều chính phát ra nhằm bù lại sự tác động của nhiéu loan để giữ cho giá trị ra của đại lượng cần điều chỉnh không đổi. Vì vậy hệ thống bù nhiễu còn được gọi là hệ thống điều khiển bất biến. Trong kỉ thuật thường sử dụng phương thức điều khiến theo sai lệch, Tín hiệu điều khiển ở đây được hình thành do có sự sai lệch giữa giá trị mong muốn và giá trị đo được của đại lượng cần điều chỉnh. Sơ đồ cấu trúc hệ thống điều chỉnh tự động tác động theo phương thức sai lệch được mô tả trên hinh 1.
Ƒ TBCD Tass KCN CCCH TBCN TBD _— r Hình 1. Sở đồ cấu trúc hệ thống diều chỉnh tự động “Trong đó + 'TBCĐ - Thiết bị đạt giá trị chủ đạo x, là giá trị mong muốn của đại lượng cần điều chỉnh, TBR§S - Thiết bị so sánh giá trị chủ đạo x và giá trị đo được y của đại lượng cần điều chỉnh để xác định giá trị sai lệch e = x- y. Giá trị x còn được gọi là giá trị nhiễu đạt trước. KCN - Khối chức nang nhằm tạo ra tín hiệu điều chỉnh U theo giá trị sai lệch e: U = fle).
CCCH - Co cdu chap hành thực hiện tác động điều chỉnh U lên ĐTĐC. 'TBCN - Thiết bị công nghệ có tín hiệu ra là đại lượng cần điều chỉnh TBD - Thiét bi do để xác định giá trị y của đại lượng cần điều chỉnh. z- Tác động nhiễu phụ tài là những tác động từ ngoài lên hệ thống mà. chúng ta không mong muốn.
Hệ thống điều chỉnh tu dong cd thé mô tả bằng hai thành phần chính là ĐTĐC và TBĐC. Khi khảo sát hệ thống chúng ta chỉ khảo sát cho một nhiễu cụ thể còn các nhiều khác tính bằng không. Hình 2 mô tả hệ thống điều chỉnh tu động cho những tác động nhiễu khác nhau. Hình 2a mô tà hệ thống điều 8 chỉnh tự động chịu tác động của nhiễu đặt trước x còn hình 2b mô tả nhiễu phụ.
2 ø prec Teas oto x y TBĐC $ b Hình z. Mô tả hệ thống điều chỉnh tự động với các tác động nhiễu khác nhau. a - nhiễu dặt trước ; b - nhiễu ph tải Hệ thống điều chỉnh tự động luôn luôn tồn tại ở một trong hai trạng thái : trạng thái xác lập (trạng thái tình) và trạng thái quá độ (trạng thái động). Trạng thái xác lập là trạng thái mà tất cả các đại lượng của hệ thống đều đạt được giá trị không đổi.
Trạng thái quá độ là trạng thái kể từ thời điểm có tác động nhiều cho đến khi hệ thống đạt được trang thái xác lập mới. Lí thuyết điều khiển tự động tập trung cơ bản mô tả và phân tích trạng thái quá độ của hệ thống. Trạng thái xác lập đánh giá độ chính xác của quá trình điều chỉnh. Nếu ở trạng thái xác lập vẫn còn tồn tại sai lệch giữa tín hiệu chủ đạo và tín hiệu đo được thì giá trị sai lệch này được gọi là sai lệch dư (hay còn gọi là sai lệch tỉnh) và được kí hiệu là ở, còn hệ thống được gọi là hệ thống có sai lệch dư.
Nếu 4 = 0 Chì hệ thống được gọi là hệ thống không có sai lệch dư. §I-2 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG DIEU CHINH TU DONG Cơ rất nhiều cách phân loại hệ thống điều chỉnh tự động. Mục đích của phần này không phải là đi sâu các cách phân loại các hệ thống điều chỉnh tự động mà chỉ đi sâu một cách phân loại nhằm giúp bạn đọc thấy được vì tri giới hạn phần lí thuyết mà mình nghiên cứu. Với mục đích đó hệ thống điều chỉnh tự động ‘duoc phan lam hai loại chính phụ thuộc vào tính chất của các phần tử của hệ thống là : hệ thống tuyến tính và hệ thống phi tuyến tính.
Nếu tất cả phần tử của hệ thống đều là tuyến tính thì hệ thống được gọi là hệ tuyến tỉnh. Chỉ cần một phần tử trong hệ thống mang tính phi tuyến tính thì hệ thống được gọi là hệ phí tuyến tính. Phần cơ bản nhất của lí thuyết điều khiển tự động là di sâu nghiên cứu hệ tuyến tính. Đặc trưng cơ bản nhất của các phần tử tuyến tính là chịu tác động của nguyên lí xếp chồng.
Nghĩa là khi có một tổ hợp tín hiệu tác động ở đầu vào của phần tử thì tín hiệu ra sẽ bằng tổ hợp tương ứng của các tín hiệu ra thành phần. Hệ thống phi tuyến tính không chịu tác động của nguyên lÍ này. Theo tính chất truyền tín hiệu hệ thống tuyến tính lại được phân làm hai loại là : hệ thống liên tục và hệ thống gián đoạn, Nếu thông tin được truyền đi trong hệ thống liên tục ở tất cả các mắt xích thì hệ thống được gọi là hệ thống tuyến. tính liên tục.
Nếu tại một mát xích nào đơ thông tin bị gián đoạn thì hệ thống được gọi là hệ thống tuyến tính gián đoạn. Hình 3 chỉ ra sự phân loại của hệ thống điều chỉnh tự động tuyến tính liên tục (fTTTLT). HTTTLT a ee HTTT HTĐB a NT Lo N HTH HTK HCT HTC HTU ZN | HBN HCTr HOD HTD oN HTHH tiình 4.