CHƯƠNG I NGÀNH THỦY SẢN VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN 1. Khái quát về Ngành Thủy sản. Khái niệm và đặc điểm của Ngành Thủy sản. Khái niệm Ngành Thủy sản.
- Hoạt động thủy sản là một khái niệm rộng, theo điều 2 của Luật Thủy sản được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua, hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản [trang 14, 27]. - Ngành Thủy sản là một tiểu ngành của ngành nông nghiệp, nhưng nó có tính độc lập tương đối trong quá trình phát triển, do đó có thể tiếp cận việc nghiên cứu Ngành Thủy sản với những phạm vi khác nhau theo từng mặt quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất hay đồng thời cả quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của ngành này. Trong các công trình nghiên cứu về Ngành Thủy sản đã xuất hiện cách sử dụng các thuật ngữ khác nhau để chỉ các phạm vi nghiên cứu: Hệ thống kinh tế thủy sản; Hệ thống kỹ thuật thủy sản; Hệ thống thủy sản. Hệ thống kỹ thuật sản xuất là khái niệm liên quan đến phát triển các yếu tố lực lượng sản xuất về mặt trình độ kỹ thuật.
Thuật ngữ hệ thống kinh tế thủy sản lại có nội hàm chủ yếu là quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất kinh doanh thủy sản; thuật ngữ này phù hợp với phạm vi nghiên cứu của luận án. Thuật ngữ hệ thống thủy sản lại có nội hàm rộng (giống như khái niệm Ngành Thủy sản trong Luật Thủy sản), bao gồm các nội dung liên quan đến cả quan hệ sản xuất lẫn lực lượng sản xuất. Trong quá trình phát triển của Ngành Thủy sản, việc phát triển đa dạng hóa các hình thức sở hữu; đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất và đối xử bình đẳng với mọi hình thức tổ chức sản xuất đó là đòi hỏi khách quan của cơ chế thị trường. Mỗi hình thức sở hữu, mỗi hình thức tổ chức sản xuất vừa có vai trò độc lập tương đối, lại vừa có sự tác động qua lại với nhau, nương tựa và liên kết với nhau trong quá trình phát triển, tạo thành nền tảng kinh tế hay hệ thống kinh tế phù hợp biện chứng với trình độ phát triển lực lượng sản xuất của Ngành Thủy sản trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể.
Do đó theo tác giả có thể hiểu hệ thống kinh tế thủy sản là tổng thể quan hệ sản xuất của Ngành Thủy sản; biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu, những hình thức tổ chức sản xuất, phân phối, trao đổi trong các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến sản phẩm thủy sản và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với Ngành Thủy sản. Đặc điểm của Ngành Thủy sản. Thủy sản là một bộ phận của ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng, nên sản xuất kinh doanh thủy sản có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nói chung. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của đối tượng lao động nên biểu hiện của những đặc điểm chung trong Ngành Thủy sản lại có những nét riêng.
¾ Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước. Các loài động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng sản xuất của Ngành Thủy sản. Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và mặt nước trong nội địa. Những sinh vật sống trong môi trường nước, với tính cách là đối tượng lao động của Ngành Thủy sản, có một số điểm đáng lưu ý như sau: - Về trữ lượng, khó xác định một cách chính xác trữ lượng thủy sản có trong một ao hồ hay ngư trường.
Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di cư từ vùng này đến vùng khác không phụ thuộc vào ranh giới hành chính. Hướng di chuyển của các luồng tôm cá chịu tác động của nhiều nhân tố như thời tiết khí hậu, dòng chảy và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên. Để bảo vệ, tái tạo và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi thủy sản, một mặt cần phân chia ranh giới mặt nước, mặt biển, vùng biển giữa các địa phương hay các quốc gia nhưng mặt khác cũng cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương hay các nước trong nuôi trồng, đánh bắt thủy sản. Đối với từng địa phương hay từng quốc gia, nếu không ngăn chặn có hiệu quả các phương pháp khai thác lạc hậu hoặc làm hủy diệt các sinh vật trong nước có thể dẫn đến cạn kiệt nguồn thức ăn tự nhiên, do vậy có thể làm thay đổi nơi cư trú của tôm, cá hoặc hướng di chuyển của các loài thủy sản khác, dẫn đến làm nghèo nàn hay cạn kiệt nguồn lợi thủy sản.
- Các loài sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình thủy văn…. Trong nuôi trồng thủy sản, cần tạo những điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển cao của các loại thủy sản như: Tạo dòng chảy bằng máy bơm, tạo oxy bằng quạt sục nước…Trong hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản, tính mùa vụ của từng loại thủy sản như sinh sản theo mùa, di cư theo mùa phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, điều kiện thủy văn đã tạo nên tính phức tạp về mùa vụ cả về không gian và thời gian. Điều này đã tạo nên cơ sở khách quan của việc hình thành và phát triển nhiều ngành nghề khai thác khác nhau của ngư dân. - Các sản phẩm thủy sản sau khi thu hoạch hoặc đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều là những sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống.
Để tránh tổn thất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm; từ khi khai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ. - Cần những nghiên cứu cơ bản để nắm vững quy luật sinh trưởng và phát triển của từng giống, loài thủy sản như quy luật sinh sản, sinh trưởng, di cư, quy luật cạnh tranh quần đoàn, các tập tính kiếm ăn hay tự vệ …. Trên cơ sở đó triển khai thực hiện các biện pháp nuôi trồng, khai thác phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ và phát triển nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững của Ngành. ¾ Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế.
Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển … gọi chung là thủy vực được sử dụng vào nuôi trồng thủy sản và đánh bắt hải sản. Tương tự như ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu không thể thay thế của Ngành Thủy sản. Không có thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản. Tuy nhiên, nước là yếu tố quan trọng đối với mọi ngành kinh tế, thậm chí là điều kiện của sự sống.
Do vậy thủy vực có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau của con người như điều hoà môi trường, đáp ứng nhu cầu giao thông thủy, du lịch sinh thái sông nước …. Thông thường, thủy vực được sử dụng theo hướng đa mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng. Ví dụ: các ao hồ chứa nước thường được sử dụng để nuôi cá kết hợp trữ nước tưới phục vụ nông nghiệp; các con sông có thể phục vụ giao thông thủy, nuôi cá lồng bè ở ven sông, cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của cư dân …. Để sử dụng có hiệu quả và bảo vệ thủy vực trong Ngành Thủy sản cần chú ý những vấn đề sau: - Thực hiện quy hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụng thủy vực cho Ngành Thủy sản.
Trong quy hoạch cần chú ý những thủy vực có mục đích sử dụng chính vào nuôi trồng thủy sản cần kết hợp với các hướng kinh doanh khác; còn những thủy vực được quy hoạch sử dụng cho mục đích phát triển giao thông, thủy điện … là chính thì cần kết hợp hợp lý với việc phát triển thủy sản để nâng cao hiệu quả sử dụng thủy vực. - Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển. Thực hiện những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước. Mặt khác, phải thường xuyên cải tạo thủy vực, tăng nguồn dinh dưỡng cho các thủy sinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của thủy vực.
Đây là điều kiện thực hiện thâm canh tăng năng suất các sinh vật nuôi trồng, điều kiện sử dụng thủy vực trong Ngành Thủy sản theo hướng thâm canh. - Sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng thủy vực là các ao, hồ … sang đất xây dựng cơ bản hay mục đích khác. ¾ Ngành Thủy sản là Ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao. Với tính cách là một Ngành sản xuất vật chất, Ngành Thủy sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản.
Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động cụ thể nói trên chưa tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau. Trong điều kiện như vậy, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít, với chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng nhu cầu nhỏ hẹp. Ngày nay dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hoá ngày càng cao. Các hoạt động chuyên môn hoá khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản có trình độ và quy mô phát triển tuỳ thuộc vào nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những ngành chuyên môn hoá hẹp có tính chất độc lập tương đối.