Tổng quan luận án

Luận án Tiến sĩ Kinh tế với đề tài "Cơ chế tài chính phát triển ngành thủy sản khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đặng Thanh Sơn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Dương Thị Bình Minh, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2009, thuộc chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng (Mã số: 60.12).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, ngành thủy sản Việt Nam được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 – 2010 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX) và Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vai trò trọng điểm khi sở hữu vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn khoảng 360.000 km² (chiếm 37,1% diện tích đặc quyền kinh tế cả nước), chiều dài bờ biển 750 km (chiếm 23,4% cả nước), 22 cửa sông, lạch lớn nhỏ và diện tích vùng triều khoảng 80.000 ha (trong đó bãi triều cao chiếm 70 – 80%). Năm 2006, GDP ngành thủy sản ĐBSCL chiếm 44,64% GDP nông lâm ngư nghiệp toàn vùng; sản lượng chiếm 57,27% và kim ngạch xuất khẩu chiếm 59,22% toàn ngành cả nước. Mặc dù có tiềm năng lớn về nuôi trồng cá nước ngọt (cá tra, cá basa), tôm nước lợ và đánh bắt hải sản, song các nguồn lực vẫn chưa được khai thác tương xứng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu một cơ chế tài chính linh hoạt nhằm huy động nguồn lực và thích ứng với các điều kiện hội nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế tài chính (CCTC) phát triển ngành thủy sản, bao gồm bản chất, vai trò của tài chính, cơ cấu tài chính, chính sách, công cụ tài chính và kinh nghiệm vận dụng của một số quốc gia.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng vận hành CCTC tác động đến ngành thủy sản ĐBSCL giai đoạn 2001 – 2008, chỉ rõ các thành tựu đạt được và những vấn đề tồn tại, hạn chế.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện CCTC phát triển ngành thủy sản ĐBSCL đến năm 2020 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là CCTC phát triển ngành thủy sản ĐBSCL, bao gồm: hệ thống luật pháp tài chính; chính sách và công cụ thuế; chính sách và công cụ chi đầu tư phát triển của Ngân sách Nhà nước (NSNN); chính sách và công cụ tín dụng Nhà nước; chính sách và công cụ tín dụng ngân hàng; thị trường tài chính và các công cụ thị trường; bộ máy vận hành CCTC.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian: Tập trung tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.
  • Về thời gian: Giai đoạn 2001 – 2008 phục vụ việc phân tích, đánh giá thực trạng; giai đoạn 2009 – 2020 phục vụ việc định hướng và đề xuất giải pháp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan các công trình nghiên cứu, tác giả điểm lại một số công trình tiêu biểu liên quan đến ngành thủy sản:

  • Đề án "Quy hoạch tổng thể Ngành thủy sản ĐBSCL đến năm 2010": Công trình phân tích toàn diện sự phát triển của ngành thủy sản ĐBSCL từ khai thác, nuôi trồng, chế biến đến thương mại và phân bổ lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu về CCTC trong đề án này còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở mức độ dự báo nhu cầu vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư.
  • Sách "Thị trường xuất - nhập khẩu thủy sản" do PGS. Nguyễn Văn Nam chủ biên (NXB Thống kê, xuất bản năm 2005): Tác phẩm nghiên cứu thị trường thủy sản thế giới, đánh giá thực trạng năng lực sản xuất, xuất khẩu của thủy sản Việt Nam và đề xuất chính sách, chiến lược phát triển sản phẩm cũng như dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu. Mặc dù có đề cập đến chính sách tài chính, công trình chỉ dừng lại ở phạm vi hỗ trợ hoạt động xuất khẩu thủy sản.
  • Một số bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Tạp chí Kinh tế phát triển, Tạp chí Phát triển kinh tế: Các bài viết đã bước đầu đề cập đến CCTC ngành thủy sản nhưng ở mức độ phân tán theo từng khía cạnh riêng lẻ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống và biện chứng về thực trạng CCTC nhằm đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện CCTC phục vụ phát triển ngành thủy sản ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm ngành thủy sản và hệ thống kinh tế thủy sản: Căn cứ Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003, hoạt động thủy sản bao gồm khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu; dịch vụ thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Luận án phân biệt "hệ thống kinh tế thủy sản" (tổng thể quan hệ sản xuất, sở hữu, phân phối, trao đổi và cơ chế quản lý của Nhà nước) với "hệ thống kỹ thuật thủy sản" (phát triển lực lượng sản xuất về trình độ kỹ thuật).
  • Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành thủy sản: (1) Đối tượng sản xuất là sinh vật sống trong nước có tính di chuyển tự do, phụ thuộc tự nhiên, dễ ươn thối, hư hỏng sau thu hoạch; (2) Thủy vực (sông, hồ, ao, vùng triều, biển) là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế và mang tính sử dụng đa mục tiêu; (3) Ngành có tính hỗn hợp và liên ngành cao, kết hợp giữa nông nghiệp (nuôi trồng) và công nghiệp (khai thác, chế biến, dịch vụ hậu cần); (4) Đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, chu kỳ vốn gắn liền tính mùa vụ và chịu rủi ro cao từ thiên tai, dịch bệnh.
  • Bản chất và cơ chế tài chính: Tài chính phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu tích lũy hoặc tiêu dùng. Luận án phân định "cơ cấu tài chính" (các quan hệ phân phối và phương thức vận hành xác định bởi cơ cấu kinh tế) và "cơ chế tài chính" (hệ thống hình thức, phương pháp, biện pháp tác động vào sự vận hành của cơ cấu tài chính). CCTC có 4 chức năng chủ yếu: Động viên các nguồn lực; Kích thích kinh tế thông qua đòn bẩy tài chính; Điều tiết quan hệ kinh tế; Kiểm soát các hoạt động kinh doanh qua sự vận động của đồng vốn.
  • Khung công cụ tài chính vĩ mô: Bao gồm hệ thống luật pháp tài chính, chính sách thuế, chi đầu tư phát triển từ NSNN, tín dụng Nhà nước (thực hiện qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam - VDB), tín dụng ngân hàng thương mại, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn/trái phiếu, cổ phiếu, thị trường phái sinh) và bộ máy vận hành CCTC (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, chính quyền địa phương).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và kinh tế:

  • Các nguyên tắc phương pháp luận: Nguyên tắc khách quan; nguyên tắc toàn diện; nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và lôgic; nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp thống kê; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp diễn dịch và quy nạp.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê, báo cáo của Bộ Thủy sản (sau sáp nhập là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Trung tâm Kiểm tra chất lượng, vệ sinh thủy sản (NAFIQACEN) và các số liệu thống kê tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2001 – 2008.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Ngành Thủy sản và cơ chế tài chính phát triển Ngành Thủy sản

Chương I tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận về ngành thủy sản và CCTC phát triển ngành. Cơ cấu ngành thủy sản được phân định thành: nuôi trồng thủy sản, công nghiệp thủy sản (khai thác, chế biến) và các ngành phụ trợ/phục vụ (đóng sửa tàu thuyền, sản xuất ngư cụ, kho lạnh, sản xuất nước đá, bao bì, thức ăn). Mối quan hệ giữa 4 khu vực hoạt động được xác lập gồm: Khu vực sản xuất nguyên liệu $\rightarrow$ Khu vực chế biến $\rightarrow$ Khu vực lưu thông $\rightarrow$ Dịch vụ hậu cần, trong đó khu vực lưu thông giữ vai trò then chốt điều tiết quan hệ phân phối và tạo áp lực phát triển sản xuất.

Về vai trò kinh tế, luận án tổng hợp các chỉ số đóng góp của ngành giai đoạn 2001 – 2006:

Chỉ tiêu kinh tế Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Tỷ trọng GDP Thủy sản trong GDP quốc gia (%) 8,67 - - - - 9,812
Tỷ trọng xuất khẩu Thủy sản / Tổng kim ngạch XK cả nước (%) 10,5 - - - - 8,4
Tỷ trọng XK Thủy sản / Tổng XK Nông - Lâm - Ngư nghiệp (%) 35,3 43,9 43,5 40,4 36,8 35,0
Lao động toàn ngành Thủy sản (Triệu người) 3,12 - - - 3,80 -

Tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất khẩu thủy sản thời kỳ 2001 – 2006 đạt xấp xỉ 14%/năm. Năm 2001, mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người đạt 19,4 kg/người/năm, vượt mức tiêu thụ thịt lợn (17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người).

Về CCTC, chương này phân tích bản chất của từng công cụ tài chính vĩ mô:

  • Chi đầu tư phát triển NSNN: Mang tính tích lũy, gia tăng tài sản cố định công (cảng cá, bến cá, hệ thống thủy lợi, khu neo đậu trú bão). Đặc điểm quan trọng là chi đầu tư hạ tầng phần lớn không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và đòi hỏi phải gắn kết chặt chẽ với chi thường xuyên để duy tu, bảo dưỡng.
  • Tín dụng Nhà nước: Cơ chế tài chính hỗ trợ mục tiêu phát triển qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), áp dụng lãi suất ưu đãi cho vay chương trình đánh bắt xa bờ và tài trợ xuất khẩu.
  • Tín dụng ngân hàng: Nguồn vốn trung gian đáp ứng nhu cầu vốn lưu động và vốn đầu tư trung, dài hạn cho các hộ sản xuất, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
  • Thị trường tài chính: Thị trường tiền tệ cung ứng thanh khoản ngắn hạn; thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp) tài trợ dài hạn; thị trường phái sinh hỗ trợ phòng ngừa rủi ro biến động giá cả hàng hóa, xăng dầu, tỷ giá và lãi suất.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án khảo cứu kinh nghiệm vận dụng CCTC của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.

Chương II: Thực trạng cơ chế tài chính phát triển Ngành Thủy sản ĐBSCL

Chương II đánh giá thực trạng phát triển ngành thủy sản và CCTC tại ĐBSCL giai đoạn 2001 – 2008.

Về tiềm năng và hoạt động: ĐBSCL là trung tâm thủy sản lớn nhất cả nước, chiếm trên 57% sản lượng và gần 60% giá trị xuất khẩu toàn ngành. Trữ lượng cá biển vùng ĐBSCL lớn, có lợi thế lớn về nuôi trồng cá tra, cá basa nước ngọt tại vùng phù sa và tôm nước lợ tại các vùng ven biển.

Về thực trạng CCTC giai đoạn 2001 – 2008:

  • Luật pháp tài chính: Từng bước hoàn thiện theo cơ chế thị trường nhưng các văn bản hướng dẫn còn thiếu tính đồng bộ, việc phối hợp giữa Luật Thủy sản và các Luật Thuế, Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng còn bất cập.
  • Chính sách thuế: Các chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm thủy sản sơ chế đã hỗ trợ giảm bớt gánh nặng tài chính, nhưng việc hoàn thuế GTGT còn vướng mắc về thủ tục hành chính.
  • Chi đầu tư NSNN: Nhà nước đã tăng tỷ trọng vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật (cảng cá, trung tâm giống, hệ thống đê bao thủy lợi), tuy nhiên nguồn vốn phân bổ còn dàn trải, tỷ lệ vốn giải ngân thực tế chưa đáp ứng kịp tiến độ yêu cầu.
  • Tín dụng Nhà nước: Chương trình tín dụng đầu tư phát triển (cho vay đóng mới tàu thuyền đánh bắt xa bờ) giúp hiện đại hóa đội tàu, nhưng phát sinh tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu cao do hiệu quả khai thác một số mô hình chưa đạt yêu cầu, thiếu các dịch vụ hậu cần trên biển hỗ trợ.
  • Tín dụng thương mại: Các ngân hàng thương mại mở rộng dư nợ cho các hộ nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến. Tuy vậy, quy trình thế chấp tài sản còn gặp khó khăn do tài sản trên đất ao nuôi hoặc tài sản sinh học (đàn thủy sản) chưa được định giá và bảo hiểm đầy đủ.
  • Thị trường tài chính: Phần lớn doanh nghiệp thủy sản ĐBSCL có quy mô vừa và nhỏ, việc tiếp cận kênh phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế; thị trường công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro giá cả và tỷ giá chưa phát triển phổ biến.
  • Bộ máy vận hành: Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thủy sản/Nông nghiệp và PTNT, chính quyền địa phương) còn thiếu tính liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị ngành hàng.

Chương III: Các giải pháp hoàn thiện CCTC phát triển Ngành Thủy sản ĐBSCL đến năm 2020

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp tài chính và các giải pháp hỗ trợ đồng bộ:

  1. Dự báo nhu cầu vốn và định hướng: Căn cứ xu hướng phát triển thị trường thủy sản quốc tế, dự báo nhu cầu vốn đầu tư cho toàn bộ các khâu nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần ĐBSCL đến năm 2020.
  2. Hoàn thiện khuôn khổ luật pháp tài chính: Xây dựng cơ chế tài chính đồng bộ, phù hợp với các cam kết quốc tế khi gia nhập WTO, các hiệp định thương mại tự do và rào cản kỹ thuật (TBT, SPS).
  3. Hoàn thiện các chính sách và công cụ tài chính:
    • Chính sách thuế: Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, áp dụng ưu đãi thuế có trọng điểm cho các dự án nghiên cứu phát triển giống chất lượng cao, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và xử lý nước thải bảo vệ môi trường.
    • Chi đầu tư phát triển NSNN: Tập trung ngân sách cho các công trình trọng điểm (hạ tầng vùng nuôi tập trung, hệ thống thủy lợi ngăn mặn trữ ngọt, cảng cá loại I, khu neo đậu tránh trú bão), kết hợp chi đầu tư với chi thường xuyên để nâng cao hiệu quả khai thác công trình.
    • Tín dụng Nhà nước và ngân hàng: Nâng cao hiệu quả thẩm định các dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển qua VDB; đa dạng hóa các gói tín dụng ngân hàng thương mại, linh hoạt điều kiện bảo đảm tiền vay đối với tài sản hình thành từ vốn vay và sản phẩm nuôi trồng.
    • Phát triển thị trường tài chính: Khuyến khích doanh nghiệp thủy sản đủ điều kiện cổ phần hóa, niêm yết trên thị trường chứng khoán để huy động vốn dài hạn; nghiên cứu ứng dụng các công cụ tài chính phái sinh nhằm phòng ngừa biến động giá nguyên liệu và tỷ giá.
  4. Hoàn thiện bộ máy vận hành CCTC: Cải cách quy trình quản lý tài chính công, tăng cường phối hợp liên ngành giữa tài chính, ngân hàng và cơ quan quản lý chuyên ngành nông nghiệp tại các địa phương vùng ĐBSCL.
  5. Các giải pháp hỗ trợ phát triển:
    • Tái cơ cấu tổ chức tài chính tại các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản.
    • Xây dựng và phát triển thương hiệu quốc tế cho sản phẩm thủy sản ĐBSCL (đặc biệt là tôm sú, cá tra, cá basa).
    • Xây dựng chiến lược ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá và các rào cản kỹ thuật thương mại tại các thị trường nhập khẩu lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản).
    • Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về kỹ thuật nuôi trồng, công nghệ chế biến và quản trị tài chính doanh nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những điểm đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:

  • Về mặt khoa học và lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về CCTC phát triển ngành thủy sản trong mối quan hệ biện chứng với cơ cấu kinh tế ngành. Luận án phân tích sâu sắc bản chất, 4 chức năng chủ yếu của CCTC và sự tác động của từng công cụ tài chính vĩ mô (thuế, chi NSNN, tín dụng Nhà nước, tín dụng ngân hàng, thị trường tài chính) đối với một ngành sản xuất vật chất mang tính hỗn hợp và liên ngành cao.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích toàn diện thực trạng CCTC tác động đến ngành thủy sản ĐBSCL giai đoạn 2001 – 2008; chỉ rõ những điểm nghẽn về thể chế, vốn đầu tư hạ tầng, tín dụng và bộ máy vận hành; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ hoàn thiện CCTC phát triển ngành thủy sản ĐBSCL đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập WTO và kinh tế quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Luận án tập trung giới hạn phạm vi khảo sát thực trạng trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2008 và phạm vi không gian tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Về phương pháp, đề tài tiếp cận chủ yếu theo phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê mô tả chuyên ngành kinh tế tài chính, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng để lượng hóa mức độ tác động của các chính sách tài chính đến tăng trưởng ngành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát chuỗi giá trị tài chính trong điều kiện biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn tại ĐBSCL hoặc ứng dụng các mô hình định lượng đánh giá tác động của chính sách bảo hiểm nông nghiệp - thủy sản.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh khu vực ĐBSCL): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn đầu tư công hạ tầng thủy sản, thiết kế chính sách ưu đãi thuế và cơ chế tín dụng hỗ trợ sản xuất nông nghiệp - thủy sản.
  • Các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Tham khảo quy trình quản lý rủi ro tín dụng đối với ngành thủy sản, kinh nghiệm cho vay các chương trình khai thác xa bờ và nuôi trồng quy mô lớn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về lý luận cơ chế tài chính ngành kinh tế kỹ thuật và thực tiễn tài chính vùng ĐBSCL.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định ngành thủy sản ĐBSCL đóng góp bao nhiêu phần trăm vào các chỉ tiêu kinh tế năm 2006?
Theo số liệu trong luận án, năm 2006, GDP ngành thủy sản ĐBSCL chiếm 44,64% trong tổng GDP nông lâm ngư nghiệp toàn vùng; sản lượng thủy sản ĐBSCL chiếm 57,27% và kim ngạch xuất khẩu chiếm 59,22% toàn ngành thủy sản cả nước.

2. Khái niệm "Cơ chế tài chính phát triển Ngành Thủy sản" được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa CCTC phát triển ngành thủy sản là cơ chế quản lý tài chính, hệ thống các hình thức, phương pháp và biện pháp tác động vào sự vận hành của cơ cấu tài chính, bao gồm hệ thống luật pháp, chính sách và công cụ tài chính, bộ máy tổ chức thực hiện, phương pháp vận hành các công cụ tài chính phù hợp với cơ chế kinh tế ngành thủy sản nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý vĩ mô và vi mô.

3. Cơ cấu ngành thủy sản được phân chia thành những bộ phận sản xuất chủ yếu nào?
Cơ cấu ngành thủy sản được phân thành hai bộ phận sản xuất chủ yếu: (1) Nuôi trồng thủy sản (mang tính chất nông nghiệp, thực hiện chức năng duy trì, bổ sung, tái tạo và phát triển nguồn lợi); (2) Công nghiệp thủy sản (bao gồm khai thác và chế biến sản phẩm). Ngoài ra còn có các hoạt động phụ trợ, phục vụ như đóng sửa tàu thuyền, sản xuất ngư cụ, kho lạnh, sản xuất nước đá, bao bì và sản xuất thức ăn.

4. Đặc điểm của chi đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước cho ngành thủy sản là gì?
Chi đầu tư phát triển NSNN cho ngành thủy sản là khoản chi tích lũy làm gia tăng tài sản cố định công (cảng cá, bến cá, hệ thống thủy lợi, khu neo đậu trú bão); phần lớn các công trình kết cấu hạ tầng này không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; quy mô và cơ cấu chi phụ thuộc vào chiến lược của Nhà nước và mức độ phát triển của kinh tế tư nhân; đồng thời khoản chi này phải gắn chặt với chi thường xuyên để bảo đảm duy tu, vận hành hiệu quả.

5. Luận án đề xuất những nhóm công cụ tài chính chủ yếu nào nhằm phát triển thủy sản ĐBSCL đến năm 2020?
Các nhóm công cụ tài chính chủ yếu bao gồm: hoàn thiện chính sách thuế (ưu đãi thuế cho nghiên cứu giống, công nghệ chế biến và xử lý môi trường); nâng cao hiệu quả chi đầu tư phát triển NSNN vào hạ tầng kỹ thuật; hoàn thiện chính sách tín dụng Nhà nước qua VDB và tín dụng ngân hàng thương mại; phát triển các công cụ thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp) và công cụ tài chính phái sinh phòng ngừa rủi ro giá và tỷ giá.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đặng Thanh Sơn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế tài chính phát triển ngành thủy sản và phân tích thực trạng vận hành CCTC tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2001 – 2008. Công trình chỉ rõ những thành tựu về tăng trưởng, xuất khẩu cũng như các hạn chế về vốn đầu tư hạ tầng, tín dụng và bộ máy quản lý tài chính của vùng trọng điểm thủy sản cả nước. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về luật pháp, thuế, chi ngân sách, tín dụng và thị trường tài chính định hướng đến năm 2020, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển bền vững ngành thủy sản ĐBSCL trong quá trình hội nhập quốc tế.