ĐẠI HỌC QUOC GIA TP. HO CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KHOA MẠNG MAY TÍNH VÀ TRUYEN THONG VU TRINH KHANG NGUYEN THI MINH HAI KHOA LUAN TOT NGHIEP CYBER MOVING TARGET DEFENSE AND NETWORK FORENSICS IN SDN NETWORKS KY SU NGANH AN TOAN THONG TIN TP. HO CHi MINH, 2020 ĐẠI HỌC QUOC GIA TP. HO CHÍ MINH TRUONG DAI HOC CONG NGHE THONG TIN KHOA MANG MAY TINH VA TRUYEN THONG VU TRINH KHANG - 16520574 NGUYEN THI MINH HAI - 16520331 KHOA LUAN TOT NGHIEP CO CHE PHONG THU DI CHUYEN MUC TIEU VA DIEU TRA MANG CHO SDN CYBER MOVING TARGET DEFENSE AND NETWORK FORENSICS IN SDN NETWORKS KY SU NGANH AN TOAN THONG TIN GIANG VIEN HUONG DAN ThS.
Phan Thế Duy TP. HÒ CHÍ MINH, 2020 DANH SÁCH HOI DONG BẢO VỆ KHÓA LUẬN Hội đồng cham khóa luận tốt nghiệp, thành lập theo Quyết định số ¬_ eee eeee eee e eae enas ngay. của Hiệu trưởng Trường Dai học Công nghệ Thông tin. ¬ eee ce nce e eens eee nena enone ea en — Chủ tịch.
ene teens — Thu ky. Boece eee nese eee — Ủy viên. cnet denne eee n netted — Uy viên. ĐẠI HỌC QUOC GIA TP.
HO CHÍ MINH CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM TRUONG DAI HOC Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TP. NHAN XET KHOA LUAN TOT NGHIEP (CUA CAN BO HUONG DAN) Tên khóa luân: Cơ chế phòng thủ di chuyên mục tiêu và điều tra mạng cho SDN. SV thực hiện: Cán bộ hướng dẫn: Vũ Trịnh Khang 16520574 ThS. Phan Thế Duy Nguyễn Thị Minh Hải 16520331 Đánh giá Khóa luận 1.
Vé cuôn báo cáo: Số trang Số chương Số bảng số liệu Số hình vẽ Số tài liệu tham khảo Sản pham Một sô nhận xét về hình thức cuôn báo cáo: 2. Về nội dung nghiên cứu: Điểm từng sinh viên: Vũ Trịnh Khang:. /10 Nguyễn Thi Minh Hải:. /10 NHẠN XÉT KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP (CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN) Tên khóa luận: Cơ chế phòng thủ di chuyển mục tiêu và điều tra mạng cho SDN SV thực hiện: Cán bộ phản biên: Vũ Trịnh Khang 16520574 Nguyễn Thị Minh Hải 16520331 Đánh giá Khóa luận 5.
Vê cuôn báo cáo: Số trang Số chương Số bảng số liệu Số hình vẽ Số tài liệu tham khảo Sản phẩm Một sô nhận xét về hình thức cuôn báo cáo: Đánh gia chung: Điểm từng sinh viên: Vũ Trịnh Khang:. /10 Nguyễn Thị Minh Hải:. /10 Người nhận xét (Ký tên và ghi rõ họ tên) LỜI CẢM ƠN Lời nói đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô trường Đại học Công nghệ Thông tin cũng như Quý Thầy Cô khoa Mạng máy tính và Truyền thông đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu, quan tâm, hỗ trợ chúng em trong suốt thời gian học tại trường. Chúng em rat lay làm vinh hạnh và tự hào khi đã là một sinh viên cua UIT.
Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm on ThS. Phan Thế Duy — người đã hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện khóa luận này. Trong suốt thời gian làm khoá luận, thầy đã đồng hành cùng chúng em, dành nhiều thời gian cũng như công sức dé hỗ trợ chúng em. Bên cạnh đó, chúng em xin cảm ơn các anh chị phòng Thí nghiệm An toàn thông tin đã giúp đỡ và hỗ trợ chúng em trong suốt thời gian qua.
Mặc dù, chúng em đã cố gắng hoàn thành khóa luận nhưng sẽ không tránh khỏi những sai sót. Chúng em kính mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp từ Quý Thay Cô dé chúng em có thê hoàn thiện và phát triển khóa luận này. Chúng em xin chân thành cảm ơn! Thanh phó Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2020 ĐẠI HỌC QUOC GIA TP. HO CHÍMINH CONG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIET NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc CÔNG NGHỆ THÔNG TIN DE CƯƠNG DE TÀI LUẬN VAN KỸ SƯ 1.
Tên đề tài hoặc hướng NC: Tên tiếng Việt: Cơ chế phòng thủ di chuyển mục tiêu và điều tra mạng cho SDN. Tên tiếng Anh: Cyber moving target defense and network forensics in SDN - enabled networks. Nganh va ma nganh dao tao: Ngành đào tạo: An toàn thông tin Mã ngành đào tạo: D480299 3. Họ tên học viên thực hiện đề tài, khóa-đợt học: - Sinh viên 1: Vũ Trịnh Khang MSSV: 16520574 Khóa 11 - Sinh viên 2: Nguyễn Thi Minh Hai MSSV:16520331 Khóa 11 Người hướng dẫn: ThS.
Phan Thế Duy Địa chỉ email, điện thoại liên lạc của người hướng dẫn: - ĐỊa chỉ email: duypt@uit. Tong quan tình hình NC SDN (Software-defined networking) hay mạng cấu hình bằng phần mềm là một hướng tiếp cận mới của kiến trúc mạng hiện đại, nhận được nhiều sự quan tâm trong những năm gần đây. SDN ra đời nhằm đơn giản hóa công việc quản lý mạng băng cách phân tach data plane (luồng dữ liệu) va control plane (luồng điều khiển). SDN Controller là trung tâm điều khiển của toàn mạng, được tập trung hóa theo kiểu luận lý để xử lý các yêu cầu từ ứng dụng SDN gửi cho tang chuyên tiếp dữ liệu và cung cấp cho ứng dụng SDN cái nhìn bao quát toàn mạng (bao gồm các thong kê, theo dõi su kiện, quan lý thông tin định tuyến, ảo hóa mạng và theo dõi tính di động của máy chủ trong mạng).
Bộ điều khiển là cầu nối giữa ứng dụng SDN ở tang ứng dung và các thiết bị vật lý ở tầng chuyển tiếp dit liệu (switch, router,. Tuy có nhiều triển vọng là giải pháp tối ưu thay thé hệ thống mang truyền thống trong tương lai, bộ điều khién SDN vẫn còn tồn tại những van đề khiến người ding cá nhân và các dự án lớn của các công ty, tập đoàn phải cân nhắc khi triển khai sử dụng trong thực tế, cụ thể là vẫn đề bảo mật về hệ thống mạng và phân tích nguyên nhân sự cô trên bộ điều khiển SDN. Với đặc tính tách biệt giữa lớp điều khiến và lớp dữ liệu khiến thao tác pháp chứng cũng như ở hệ thống mạng truyền thống chỉ xét trên mạng và các máy chủ sẽ không còn khả thi và cũng hết sức phức tạp và có thé tạo thêm rủi ro bảo mật khác do tính quản lí tập trung trên bộ điều khiển SDN. Đồng thời, đối với các trường hợp sử dung đa bộ điều khién và hàng loạt ứng dụng, thiết bị sẽ khiến công cuộc tìm kiếm nguyên nhân sốc kích hoạt sự cố hàng loạt hoặc xác định ứng dụng nào đang khai thác lỗ hông và gây ảnh hưởng đến flow của hệ thống hết sức khó khăn.
Đề giải quyết những thiếu sót của các biện pháp phòng thủ trong mạng SDN, phòng thủ di chuyển mục tiêu (MTD) nổi lên như một phương pháp cung cấp khả năng phòng thủ chủ động động trước những kẻ thù tiềm ân. Mục tiêu của MTD là di chuyên giữa nhiều cấu hình trong hệ thống mang (chang hạn như mở công mạng, cấu hình mạng, phần mềm, vv) do đó làm tăng sự không chắc chắn cho kẻ tấn công; trên thực tế, làm giảm lợi thể của kẻ tấn công vốn có đã chống lại được các cơ chế phòng thủ truyền thống. Khía cạnh động của MTD là làm tăng độ phức tạp trong việc thực hiện các biện pháp phòng thủ. MTD được kết hợp với những tiến bộ về công nghệ mạng dé giải quyết van đề an toàn, bảo mật trong hệ thống mạng.
Đầu tiên, chức năng ảo hoá (NFV) đã xuất hiện như một công nghệ dé cung cấp triển khai ảo hoá thiết bi dựa trên phần cứng như tường lửa, bộ định tuyến, thông qua máy ảo (VM) hoặc các vùng chứa chạy trên đầu của một máy chủ vật lý trong môi trường điện toán đám mây, MTD thường cần nhiều phần cứng hơn phần mềm thông thường, do đó hệ thống ảo hoa giúp giảm chi phí thực hiện. Thứ hai, mạng xác định bằng phần mềm (SDN) đóng vai trò như một công nghệ hỗ trợ NFV, cung cấp một người thực thi chính sách bảo mật tập trung, có thể lập trình giao diện cho SDN cung cấp có thể giúp quản trị viên triển khai các chiến lược di chuyền tối ưu cho MTD. Hơn nữa, cho phép việc triển khai MTD trên quy mô lớn sẽ giúp đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng thủ này trong môi trường thực tế. s* Tình hình nghiên cứu Trong tình hình cấp thiết về sự bảo mật của một hệ thong mang SDN, cting nhu những tinh năng ưu việt của phương thức MTD có thé mang lai dé đáp ứng được những yêu cầu của một hệ thống mạng.
Trong những năm qua, đã có rất nhiều nghiên cứu về phương thức MTD và ứng dụng của MTD vào mô hình mạng SDN. Cai và cộng sự đã tiến hành một cuộc nghiên cứu về MTD bằng cách mô tả các phương pháp tiếp cận, chiến lược dựa trên các đặc điểm chính và phương pháp đánh giá được sử dụng trong các phương pháp tiếp cận MTD hiện có. Các tác giả đã cung cấp một mô hình chức năng và phân loại các kỹ thuật MTD một cách có hệ thống về ba lớp triển khai bao gồm phần mềm, nền tảng đang chạy và mạng vật lý; chức năng và mô hình chuyên động: và MTD, các chiến lước và đánh giá giá của nó. Mặc dù, phần loại này bao quát được phương thức MTD, nhưng nó đã bỏ lỡ các góc nhìn khác của MTD chang hạn như các phương pháp thử nghiệm, sự kết hợp của các kỹ thuật MTD, các kiểu tấn công và những hạn chế của nó.
Lei và cộng sự đã xuất bản một bài khảo sát kỹ thuật MTD. Mặc dù các tác giả đã tiễn hành khảo sát rộng rãi các kỹ thuật MTD hiện có về tạo chiến lược, thực hiện xáo trộn và đánh giá hiệu suất, công việc này đã bỏ sót nhiều đơn vị phân loại MTD để phân loại và hiểu các kỹ thuật MTD hiện có. Công việc này cũng đã không khảo sát phân tích chuyên sâu về kỹ thuật MTD dựa trên các chỉ số bảo mật chính được sử dụng dé đánh giá các phương thức tiếp cận MTD hiện đại nhất. Phân loại MTD dựa trên nhiều tiêu chí chăng hạn như cơ sở ký thuyết (ví dụ: lý thuyết trò chơi, máy học, thuật toán), các kỹ thuật (ví dụ: chuyển đổi hoặc xáo trộn cau hình hệ thống) và mục đích của MTD hiện có các phương pháp tiếp cận, thiếu quan điểm nhất quán đề phân loại và phân tích các công trình MTD hiện có.
Gần đây, Sengupta và cộng sự đã tiễn hành nghiên cứu phân loại MTD dựa trên các công cụ, kỹ thuật và chiến lược.