Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CHUYEN GIAO QUYEN SU DUNG SANG CHE TRONG CAC TRUONG DAI HOC 1. Khái quát chung về sáng chế và quyền sử dung sáng chế Gan liền với những thành tựu về sáng tạo trí tuệ của loài người là sự ra đời của pháp luật về SHTT ở phạm vi từng quốc gia và toàn cầu. Từ một chủ dé ít được chú ý thì nay SHTT trở thành một trong những yếu tổ then chốt trong việc hoạch định chính sách của chính phủ mọi quốc gia trên thế giới cũng như trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược của mọi doanh nghiệp. “Trong tất cả các đối tượng của quyền SHTT, sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng nhất của quyền SHTT, và là một trong những yếu tố nền tảng thúc đây sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Trong tất cả các đối tượng của quyền SHTT thì sáng chế là đối tượng mang nhiều tính sáng tạo nhất của trí tuệ con người” [59, tr. Vi thé ma pháp luật về SHTT ở phạm vi quốc tế và của hầu hết các quốc gia đều có quy định về bảo hộ quyền SHTT đối với loại đối tượng này. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã dần từng bước đưa cuộc sống con người ngày một trở nên hiện đại hơn. Trong đó, không thể ké tới giá trị mà các sáng chế đã mang lai.
Sáng chế chính là thành quả lao động của con người, do đó luôn được Nhà nước bảo hộ thông qua hình thức thừa nhận và bảo vệ quyền cua con người, cu thé 1a bao vé quyén của người trực tiếp tạo ra hoặc dau tư dé tạo ra sáng chế. Khái niệm, đặc điểm của sáng chế 1. Khái niệm sáng chế Sáng chế là một khái niệm được dùng để chỉ những giải pháp kỹ thuật mà con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho các hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh cũng như trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, giải pháp kỹ thuật là cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một 10 van đề, một nhiệm vụ xác định.
Giải pháp kỹ thuật có thé được biểu hiện dưới dạng một sản phâm hoặc quy trình cụ thé. Đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung về sáng chế, mỗi quốc gia lại có các định nghĩa khác nhau. Ví dụ: Cộng hòa Pháp không định nghĩa sáng chế mà chỉ quy định các giải pháp kỹ thuật có thé được cấp văn băng bảo hộ độc quyền sáng chế bởi có quan có thâm quyền khai thác tạm thời đối với sáng chế đó [40]. Còn Luật SHTT của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì định nghĩa sáng chế là các giải pháp kỹ thuật mới dưới dạng một sản phẩm, một quy trình hoặc việc cải tiến sản phẩm và quy trình đó [39].
Khác với hai quốc gia trên Nhật Bản quy định sáng chế là sự sáng tạo vượt bậc của những ý tưởng kỹ thuật dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [38]. Còn Tổ chức SHTT thế giới WIPO đã đưa ra định nghĩa về sáng chế như sau “Sáng chế là sản phẩm mới hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật” [71]. Định nghĩa này của WIPO đã nhắn mạnh đến ba yếu tố: tính mới, sáng tạo và vấn đề kỹ thuật. Trước hết, sáng chế là một giải pháp kỹ thuật, tức là nó phải góp phần giải quyết một vấn đề kỹ thuật cụ thể.
Theo Từ điển Tiếng Việt, sáng chế được hiểu là “Nghĩ và chế tạo ra cái trước đó chưa từng có” [64, tr. Đây cũng là một trong những cách hiểu cơ bản và thông thường của hau hết tất cả mọi người về sáng chế. Theo pháp luật Việt Nam, Luật SHTT năm 2005 cũng đã đưa ra định nghĩa về sáng chế như sau: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định băng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” [49]. Định nghĩa này đã chi rõ sáng chế chính là Ao? một giải pháp kỹ thuật.
Có thé thấy, bản chat của sáng chế là một giải pháp kỹ thuật, vì vậy nếu đơn thuần chỉ là một phát minh, sáng kiến hay một lý thuyết khoa học thì không thé coi đó là sáng chế. Như vậy, có thê đưa ra định nghĩa về sáng chế như sau: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn dé II xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Đặc điểm cua sáng chế Thứ nhất, sáng chế là giải pháp kỹ thuật phải giải quyết được một vấn dé cụ thé băng việc áp dụng các quy luật tự nhiên.Sáng chế là sản phẩm, quy trình công nghệ do con người tạo ra, khác biệt với những gì tồn tại sẵn trong tự nhiên mà con người khám phá. Thuộc tính cơ bản của sáng chế là tính kỹ thuật, vì bản chất của nó là giải pháp kỹ thuật nhăm giải quyết một vấn đề cụ thé.
Việc giải quyết van dé này được thực hiện bằng cách áp dụng các quy luật tự nhiên - những quy luật khoa học được khám phá qua thực nghiệm. Do đó, những ý tưởng hoặc ý đồ chỉ nêu vấn đề mà không đưa ra giải pháp kỹ thuật không được coi là sáng chế. Tương tự, nếu vấn đề được giải quyết không thuộc lĩnh vực kỹ thuật hoặc không thê giải quyết bằng phương thức kỹ thuật, nó cũng không được xem là sáng chế. Mặc dù không tồn tại trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, sáng chế vẫn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này.
Các nhà khoa học xã hội cần phân tích ý nghĩa kinh tế - xã hội, pháp lý của sáng chế để đánh giá tác động của nó đối với xã hội. Thứ hai, sáng chế có thé tồn tại đưới dạng sản phẩm hoặc quy trình. Giải pháp kỹ thuật là cách tiếp cận dé giải quyết van dé kỹ thuật, và nó có thé được thê hiện thông qua sản phâm hoặc quy trình. Sáng chế dưới dạng sản phẩm có thể là: Sản phẩm vật thể: Đây là các sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi cau trúc va dấu hiệu cụ thé dé thực hiện một chức năng nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu con người.
Ví dụ: Dụng cụ, máy móc, thiết bi.; Sản phẩm dạng chat thé: Day là các sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các đặc điểm về cấu trúc, tỷ lệ, và trạng thái của các phân tử tạo thành, có một chức năng nhất định. Ví dụ: Vật liệu, chất liệu, thực pham.; Sản phẩm dang vật liệu sinh hoc: Đây là các sản pham có chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tao. 12 Ví dụ: Gen thực vật, gen động vật.Sáng chế dưới dạng quy trình được thé hiện thông qua cach thức tiễn hành một quá trình cụ thể, được xác định bằng các đặc điểm về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, và phương tiện thực hiện các thao tác nhăm đạt được một mục đích nhất định. Ví dụ: Quy trình công nghệ, phương pháp chuẩn đoán, dự đoán, kiểm tra.
Thứ ba, Sáng chế có thé áp dụng trực tiếp vào sản xuất và cuộc sông hàng ngày, có giá trị thương mại và đem lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu của nó. Dựa trên sự sáng tạo và công sức lao động, những giải pháp kỹ thuật trong sáng chế không chỉ được áp dụng trực tiếp vào sản xuất và cuộc sống hàng ngày mà còn thúc đây sự phát triển của nền kinh tế. Đồng thời, sáng chế cũng tạo ra giá trị kinh tế cho chủ sở hữu. Khát niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Khi nghiên cứu về quyền sử dụng sáng chế và chuyên giao quyền sử dụng sáng chế, không thé bỏ qua khái niệm về quyền SHCN đối với sáng chế.
Quyền sử dụng sáng chế và việc chuyển giao quyền này nằm trong phạm vi của quyền SHCN. Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” được đưa ra lần đầu tiên trong văn bản pháp luật tại Pháp vào thé kỷ XVIII. Nguồn gốc của quan điểm này về việc thừa nhận và bảo vệ quyền SHCN cũng như quyên tác giả đều xuất phát từ lý luận về quyền tự nhiên của hai nhà triết học nổi tiếng của Pháp, Vonte và Rutxo. Theo lý luận này, quyền của người tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hay một sáng chế đối với những sản phẩm này được coi là quyền tự nhiên không thể tách rời và không phụ thuộc vào việc công nhận hay không công nhận từ phía nhà nước [41, tr.
Lý luận này đã được cụ thể hóa trong Lời nói đầu của Luật Sáng chế 1791 tại Pháp, nội dung chỉ ra rằng “mọi ý tưởng mới có thê có lợi cho xã hội sẽ thuộc vê người sáng tạo ý tưởng đó, và sẽ là vi phạm nhân quyên nêu 13 không coi sáng chế công nghiệp mới là sở hữu của người tạo ra nó”. Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” cũng được sử dụng trong Công ước Paris 1883, được tổng sửa đổi vào năm 1979. Theo Điều 1 của Công ước Paris, “sở hữu công nghiệp” được hiểu rộng rãi, không chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại mà còn cả các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác, và các sản phẩm chế biến hoặc tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột [10]. Tuy nhiên, mặc dù Công ước Paris và các đạo luật quốc tế khác về SHTT nhắc đến SHCN, nhưng không trực tiếp xác định khái niệm quyền SHCN.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “quyền SHCN” được lần đầu ghi nhận trong Pháp lệnh Bảo hộ quyền SHCN năm 1989, tuy nhiên, không định nghĩa rõ ràng về nó. Ngày nay, chúng ta có thể hiểu quyền SHCN qua hai góc độ: góc độ pháp luật và góc độ quyền của chủ sở hữu đối với các đối tượng SHCN. Về pháp luật, quyền SHCN bao gồm tập hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng, chuyên nhượng, và bảo vệ các đối tượng SHCN. Góc độ quyền của chủ sở hữu đối với các đối tượng SHCN, quyền SHCN là quyền của cá nhân hoặc tô chức đối với các đối tượng SHCN.
Nội dung của quyền SHCN bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thé được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Từ những phân tích nêu trên, có thé hiểu quyền SHCN đối với sáng chế là: “quyên của tổ chức, cá nhân trong việc sở hữu, tự minh sử dung, cho pháp người khác sử dụng hoặc ngăn cắm người khác sử dụng và định đoạt đối với sáng chế”.