CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TẤN CÔNG TIÊM NHIỄM SQL 1. Khái niệm tấn công tiêm nhiễm SQL Tiêm nhiễm SQL (còn gọi là SQL Injection) không còn là khái niệm quá mới, nhưng nó vẫn là một trong những kiểu tấn công mạng khá phổ biến. Tấn công tiêm nhiễm SQL là một kỹ thuật tấn công vào hệ thống cơ sở dữ liệu của ứng dụng (web, mobile hoặc desktop …) thông qua việc kẻ tấn công lợi dụng lỗ hổng để tiến hành tiêm nhiễm mã độc vào câu truy vấn SQL và thi hành các câu lệnh SQL bất hợp pháp trên cơ sở dữ liệu (CSDL) đằng sau ứng dụng web. Thay vì nhập dữ liệu hợp lệ, kẻ tấn cống sẽ nhập một câu lệnh truy vấn độc hại bất kỳ vào, có khả năng gây ra một số thiệt hại nghiêm trọng đối với cơ sở dữ liệu và toàn bộ hệ thống.
Kẻ tấn công có thể lấy cắp được thông tin nhạy cảm của khách hàng, người dùng như tên, tuổi, địa chỉ, số tài khoản, số điện thoại … Ngoài ra, tấn công tiêm nhiễm SQL có thể cho phép những kẻ tấn công thực hiện các thao tác xóa, sửa, chèn, cập nhật trên CSDL của ứng dụng, thậm chí là máy chủ mà ứng dụng đó đang chạy. Lỗi này thường xãy ra trên các ứng dụng web có dữ liệu được quản lý bằng các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như SQL Server, MySQL, Oracle, DB2, Sysbase.1 từ [4] là mô tả cho qui trình một cuộc Tấn công tiêm nhiễm SQL. Các bước thực hiện như sau: Bước 1: Kẻ tấn công dò quét lỗ hổng của ứng dụng web. Khi phát hiện lỗ hổng, hắn tiến hành tiêm nhiễm chuỗi ký tự độc hại, gửi đến CSDL thông qua ứng dụng web.
Bước 2: Máy chủ web tiếp nhận truy vấn tiêm nhiễm và gửi nó đến máy chủ ứng dụng web (Application server). Bước 3: Tại máy chủ ứng dụng web, truy vấn tiêm nhiễm sẽ tiếp tục được chấp nhận do kẻ tấn công đã khai thác lỗ hổng của chính ứng dụng web. Nó tiếp tục được gửi đến máy chủ CSDL (Database server). Bước 4: Tại máy chủ CSDL, truy vấn tiêm nhiễm được thực thi.
Dữ liệu chứa thông tin nhạy cảm của người dùng sẽ được trả về và hiển thị trên ứng dụng web. Bước 5: Kẻ tấn công nhận được thông tin nhạy cảm. Sau đó, kẻ tấn công tiếp tục thực hiện các tấn công tiêm nhiễm SQL khác. 13 Trên đây là qui trình thực hiện tấn công tiêm nhiễm SQL.
Sau khi thực hiện tấn công tiêm nhiễm CSDL, kẻ tấn công đã thu thập được thông tin nhạy cảm của người dùng hợp lệ như User ID, Password,… Kẻ tấn công có thể sử dụng chính những thông tin này để thực hiện các cuộc tấn công khác như leo thang, chiếm quyền điều khiển máy chủ CSDL.1 Qui trình thực hiện tấn công tiêm nhiễm SQL 1. Phân loại tấn công tiêm nhiễm SQL Tấn công tiêm nhiễm SQL được phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu chí đánh giá. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tấn công tiêm nhiễm SQL có thể chia làm 3 loại như sau: - Order Wise - Blind SQL Injection 14 - Against Database Hình 1.2 Phân loại tấn công tiêm nhiễm SQL 1. Kết quả của tấn công tiêm nhiễm SQL có thể thấy được ngay sau khi tiêm nhiễm hoặc phản hồi sau một thời gian tiêm nhiễm.
Dựa trên thời gian phản hồi đó, có thể phân chia tấn công tiêm nhiễm SQL thành 3 loại sau: Tiêm nhiễm First Order: Kẻ tấn công nhận được kết quả mong muốn ngay lập tức, bằng các phản hồi trực tiếp từ ứng dụng đang tương tác hoặc một số cơ chế phản hồi khác, chẳng hạn như email… Triển khai - Kẻ tấn công có thể gửi liên kết / tệp dưới dạng tệp đính kèm với email, khi người dùng nhấp vào liên kết / tệp này, tệp thực thi được xử lý trên hệ thống của người dùng và tệp thực thi này tấn công ứng dụng / hệ thống. Nó có thể lưu trữ mã độc trên máy chủ để khởi chạy chuỗi các cuộc tấn công. Xem xét một ví dụ khác khi kẻ tấn công sử dụng mệnh đề LIKE thì cơ sở dữ liệu sẽ trả về các nội dung phù hợp. Ví dụ: “SELECT email, password, login-id FROM members WHERE email = '' OR fullname LIKE '%harry%';” Tại đây, CSDL sẽ trả về thông tin của bất kỳ người dùng nào có tên có chứa "harry".
Khi đó, kẻ tấn công nhận được kết quả ngay lập tức, đó là lý do tại sao đó là cuộc tấn công Tiêm nhiễm First Order. Tiêm nhiễm Second Order: Việc thực hiện mã độc được kẻ tấn công tiêm vào ứng dụng, nhưng không được ứng dụng kích hoạt ngay lập tức. Các đầu vào độc hại được kẻ tấn công gieo vào hệ thống hoặc CSDL. Điều này được sử dụng để gián tiếp kích hoạt tấn công tiêm nhiễm SQL sau này.
Nên khi cuộc tấn công xảy ra, câu truy vấn bị thay đổi không phải từ người dùng mà từ chính bên trong hệ thống. 15 Tiêm nhiễm Lateral: Kẻ tấn công khai thác thủ tục PL/Query (Ngôn ngữ truy vấn cấu trúc). Các biến có kiểu dữ liệu DATE hoặc NUMBER không nhận bất kỳ đầu vào nào từ người dùng và do đó thường không được coi là có thể khai thác tấn công. Nó phụ thuộc vào kỹ thuật của kẻ tấn công.
Blind SQL Injection Tấn công tiêm nhiễm SQL ‘mù’ được sử dụng khi mà một ứng dụng web được cấu hình không hiển thị thông báo lỗi hay chỉ hiển thị những thông báo lỗi chung chung, không hiển thị ra lỗi của SQL. Hai biến thể chính thực hiện tấn công tiêm nhiễm SQL “mù” là: Tấn công dựa vào nội dung phản hồi và Tấn công dựa vào độ trễ thời gian phản hồi. Tấn công dựa vào nội dung phản hồi: Kẻ tấn công thêm các biểu thức TRUE/ FALSE vào các truy vấn SQL khác nhau gửi đến CSDL ứng dụng web. Sau đó, kết quả phản hồi của ứng dụng sẽ được phân tích.
Ví dụ: “SELECT book from PRODUCTS WHERE category = 'harry potter' AND 1 = 1;” Truy vấn trên được thêm vào một mệnh đề luôn đúng “AND 1 = 1”. Hệ thống trả về thông tin book phù hợp. “SELECT book from PRODUCTS WHERE category = 'harry potter’ AND 1 = 2;” Truy vấn trên được thêm vào một mệnh đề luôn sai “AND 1 = 2”. Điều này sẽ đánh giá TRUE hoặc FALSE.
Nếu kết quả trả về là một trang lỗi được hiển thị thì điều đó chứng tỏ rằng ứng dụng web dễ bị tấn công tiêm nhiễm. Các cuộc tấn công còn có thể thực hiện trên thanh địa chỉ của ứng dụng web. Tấn công dựa vào độ trễ thời gian phản hồi: cuộc tấn công thực hiện phân tích thời gian phản hồi của hệ thống sau mỗi truy vấn SQL gửi đến. Kẻ tấn công gửi truy vấn làm CSDL thực hiện một hành động tốn thời gian.
Nếu hệ thống không trả về phản hồi ngay lập tức thì ứng dụng này dễ bị tấn công tiêm nhiễm SQL. Kẻ tấn công có thể đưa ra một truy vấn như bên dưới để đánh giá hệ thống. “SELECT book from PRODUCTS WHERE category = 'harry potter’ AND if(1=1, sleep(10), false);” 16 Nếu hệ thống có lỗ hổng tiêm nhiễm SQL thì phản hồi sẽ bị trễ 10 giây với truy vấn trên. Against Database Có nhiều kỹ thuật tấn công Against Database.
Một số kỹ thuật tấn công tiêu biểu như sau: Tautologies: Mục đích của một cuộc tấn công dựa trên tautology là tiêm mã vào một hoặc nhiều câu lệnh điều kiện luôn đúng. Trong loại tấn công SQL này, kẻ tấn công khai thác tiêm nhiễm vào mệnh đề WHERE, tức là các truy vấn luôn trả về kết quả khi đánh giá tham số điều kiện tại mệnh đề WHERE. Tất cả các hàng trong bảng cơ sở dữ liệu được truy vấn trả về khi chuyển đổi điều kiện thành một tautology. Ví dụ: Kẻ tấn công có thể nhập chuỗi “‘or ‘1’ = ‘1 “.
Truy vấn kết quả là: “SELECT * FROM user_account WHERE user_name = ’adm’ AND password = ’’or ‘1’ = ’1’;” Khi thực thi truy vấn, mệnh đề ‘1’ = ’1’ là luôn đúng nên CSDL sẽ trả về kết quả là toàn bộ dữ liệu trong bảng user_account mà không cần quan tâm đến user_name và password. Như vậy là kẻ tấn công có thể có dữ liệu truy cập của toàn bộ người dùng. Với trường hợp đăng nhập hệ thống, ở đây kẻ tấn công đã vượt qua được xác thực. Chú thích cuối dòng: Kẻ tấn công lợi dụng việc CSDL sẽ bỏ qua chuỗi đằng sau dấu chú thích dòng, ví dụ như “--” hay “# “, khi thực thi truy vấn.
Bằng cách chèn dấu chú thích vào vị trí thích hợp của câu truy vấn, kẻ tấn công sẽ lừa được CSDL thực thi câu truy vấn đã bị thay đổi. Ví dụ, kẻ tấn công tiến hành chèn dấu chú thích vào trường user_name, câu truy vấn sẽ trở thành như sau: “SELECT * FROM user_account WHERE user_name = ’admin’ -- AND password = ’’;” Như vậy, khi kiểm tra, CSDL sẽ tiến hành đăng nhập với tài khoản là admin. Tuy nhiên với trường hợp, trong bảng user_account không có user_name nào là admin thì kẻ tấn công cũng không thể xâm nhập vào cơ sở dữ liệu. 17 Ngoài ra, kẻ tấn công có thể kết hợp với tautologies để lấy được dữ liệu.
Ví dụ, kẻ tấn công thêm “‘ or 1=1--“ vào trường user_name. Câu truy vấn sẽ như sau: “SELECT * FROM user_account WHERE user_name = ’’ or 1=1 -- ' AND password = ’’;” Kết quả tương tự như tautologies. Dấu chú thích ở đây được chèn vào cho phù hợp với cú pháp SQL. Suy luận: Trong cuộc tấn công này, truy vấn được sửa đổi thành dạng thực hiện dựa trên câu trả lời cho câu hỏi true /false về các giá trị dữ liệu trong CSDL.
Trong kiểu tiêm nhiễm này, đối tượng là các trang web có đủ bảo mật để chống lại các tấn công tiêm nhiễm hiện thời. Kẻ tấn công phải sử dụng một phương pháp khác để có được phản hồi từ CSDL. Ở đây, kẻ tấn công tiêm nhiễm các lệnh vào trang web và sau đó quan sát cách trang web phản hồi. Bằng cách quan sát cẩn thận hành vi thay đổi của trang web, kẻ tấn công có thể ngoại suy không chỉ các tham số dễ bị tổn thương mà còn có thêm thông tin về các giá trị trong cơ sở dữ liệu.
Các nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng với những kỹ thuật này, họ đã có thể đạt được tốc độ trích xuất dữ liệu là 1B / s. Xem xét hai chuỗi tiêm nhiễm có thể thêm vào trường đăng nhập. Đầu tiên là “admin’ and 1 = 0 --” và “admin’ and 1 = 1 --".