CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN CUNG NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC Ở TRUNG Á 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm năng lượng Có nhiều định nghĩa về năng lượng, theo Từ điển Cambridge, nguồn năng lượng bao gồm dầu, than đá hay mặt trời, là thứ có thể được sử dụng để tạo ra năng lượng cho ánh sáng, nhiệt, máy móc,…[25]. Theo trang thông tin điện tử Study Smarter, nguồn năng lượng được định nghĩa là vật liệu hay chất liệu được sử dụng để tạo ra năng lượng.
Có ba dạng năng lượng chính yếu, đó là năng lượng hóa thạch (than, dầu mỏ, khí tự nhiên), năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo [61]. Có hai cách chính để phân loại năng lượng, đó là phân loại theo lịch sử sử dụng và phân loại theo khả năng tái tạo. Căn cứ vào lịch sử sử dụng năng lượng thì năng lượng chia thành năng lượng truyền thống và năng lượng mới hay năng lượng có khả năng thay thế. Còn căn cứ vào khả năng tái tạo, năng lượng bao gồm năng lượng tái tạo được và năng lượng không tái tạo được.
Như vậy, có thể hiểu đơn giản, năng lượng là dạng vật chất có khả năng sinh công. Còn nguồn năng lượng hiểu đơn giản là nguồn có thể sản sinh ra năng lượng như gỗ, than, dầu, nguyên tử phóng xạ, gió, dòng chảy của nước,… Nguồn năng lượng là vật chất cứng nằm trong lãnh thổ quốc gia, có tác động sâu sắc đối với năng lực quốc gia và được xếp là cấu phần của “sức mạnh cứng”. Năng lượng giữ vai trò quan trọng đối với loài người. Có thể nói, năng lượng là một trong những điều kiện tối kiên quyết của sự sống còn và phát triển của mỗi con người và toàn nhân loại.
Điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kì nền văn minh nào đều là năng lượng. 17 Tóm lại, năng lượng là một trong những nhân tố trọng yếu đối với kinh tế và an ninh của tất cả các quốc gia. Từ đó, việc đảm bảo an ninh năng lượng trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối nội và chính sách đối ngoại mỗi quốc gia. Khái niệm an ninh năng lượng An ninh năng lượng có nhiều thay đổi cùng với sự biến động của bối cảnh quốc tế.
Với vai trò quan trọng của năng lượng, việc đảm bảo an ninh năng lượng càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với các quốc gia. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), an ninh năng lượng là sự sẵn có của các nguồn năng lượng mà không bị đứt quãng ở mức giá phải chăng. IEA cũng cho rằng an ninh năng lượng có hai khía cạnh: an ninh năng lượng dài hạn và an ninh năng lượng ngắn hạn. Trong đó, an ninh năng lượng dài hạn chủ yếu liên quan đến việc đầu tư kịp thời để đảm bảo nguồn cung năng lượng phù hợp với sự phát triển kinh tế và môi trường; mặt khác, an ninh năng lượng ngắn hạn chủ yếu tập trung vào hệ thống năng lượng hiện có để có thể phản ứng kịp thời trước những thay đổi đột ngột trong cán cân cung - cầu năng lượng [40].
Ngoài ra, có thể định nghĩa an ninh năng lượng từ khía cạnh quốc gia xuất khẩu năng lượng và quốc gia nhập khẩu năng lượng. Đối với các quốc gia xuất khẩu năng lượng, an ninh năng lượng trước hết là bảo đảm chủ quyền quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên, không bị nước ngoài can thiệp và áp đặt kiểm soát quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên năng lượng. Thứ hai là đảm bảo khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài. Thứ ba là đảm bảo an ninh tài chính của nguồn thu từ xuất khẩu năng lượng không bị chính phủ lãng phí hoặc bị lạm phát nuốt chửng [63].
Đối với các quốc gia nhập khẩu năng lượng, an ninh năng lượng có thể hiểu theo ba hướng. Đầu tiên, theo nghĩa hẹp, an ninh năng lượng có nghĩa là đảm bảo cung cấp năng lượng đầy đủ để duy trì sản xuất quốc gia trong chiến tranh. Thứ hai, theo nghĩa rộng, an ninh năng lượng là đảm bảo cung cấp năng lượng đầy đủ để đảm bảo nền kinh tế quốc gia đang hoạt động ở mức bình thường. Thứ ba, an ninh 18 năng lượng cũng có nghĩa là nguồn cung cấp năng lượng đủ để giữ cho nền kinh tế của nước này phát triển mạnh ở dạng có thể chấp nhận được [11].
Trung Quốc vừa là nước xuất khẩu vừa là nước nhập khẩu năng lượng, tuy nhiên, với tình trạng tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng, Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu ròng cả ba loại năng lượng hóa thạch: dầu, khí đốt tự nhiên và than đá. Sự thay đổi như vậy có nghĩa là an ninh năng lượng đã trở thành một vấn đề ngày càng nhạy cảm đối với Chính quyền Trung ương Trung Quốc. Cũng chính vì vậy, Trung Quốc đặc biệt chú ý đến việc đảm bảo an ninh năng lượng, không chỉ thông qua việc xây dựng hệ thống cung cấp năng lượng quy mô lớn và ổn định, dựa vào nguồn cung trong nước mà còn đặt trọng tâm vào chính sách phát triển nguồn cung năng lượng. Khái niệm địa chính trị năng lượng Địa chính trị năng lượng có thể được định nghĩa là tác động của vị trí tài nguyên đối với chính trị của các quốc gia [57].
Vai trò của địa chính trị năng lượng trong ngoại giao năng lượng có thể thấy rõ trên hai khía cạnh sau: Thứ nhất, vị trí địa lý tạo lợi thế chiến lược cho nguồn cung năng lượng. Điều này thể hiện rõ với hầu hết các nguồn năng lượng quan trọng nhất hiện nay, bao gồm cả năng lượng không tái tạo (khí đốt, than đá, dầu mỏ…) và năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thuỷ triều…). Thứ hai, vị trí địa chiến lược trong trung chuyển năng lượng. Điều này thể hiện rõ nét nhất qua việc xây dựng, duy trì vận hành các đường ống dẫn dầu và dẫn khí xuyên quốc gia [11].
Trung Á cũng có thể coi là nơi có vị trí địa chính trị năng lượng quan trọng, bởi khu vực này không chỉ có trữ lượng tài nguyên khổng lồ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc trung chuyển năng lượng. Trung Á vốn được mệnh danh là “căn cứ năng lượng của thế kỷ XXI” [13]. Cựu Cố vấn an ninh Quốc gia Mỹ Zbigniew Brzezinski nhận định: “Trung Á là khu đệm, là nơi giáp ranh hội đủ các nền văn minh chính giáo, Hồi giáo, Trung Hoa và Ấn Độ. Một bãi đáp tuyệt vời để kiểm soát vùng Á - Âu từ cả bốn phía của thế giới”, ông còn cho rằng đây là “trung 19 tâm của cạnh tranh giữa các siêu cường” [43].
Do vậy, Trung Á nhanh chóng nổi lên với vai trò là một sân chơi năng lượng quan trọng thu hút nhiều nước tham gia. Từ đó, Trung Á có vai trò quan trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Trung Quốc không chỉ về mặt năng lượng mà còn về cả an ninh - chính trị. Khái niệm chính sách phát triển nguồn cung năng lượng Trong thế giới đương đại, có thể nhận thấy hai loại ngoại giao năng lượng chính là ngoại giao vì năng lượng và ngoại giao bằng năng lượng. Theo đó, ngoại giao năng lượng có hai khía cạnh cụ thể: (i) mục đích của các hoạt động chính trị bên ngoài là đảm bảo an ninh năng lượng, phục vụ chiến lược an ninh - kinh tế quốc gia; và (ii) có những động cơ chính trị trong ngoại giao năng lượng, tức là đạt được các mục đích chính trị cụ thể thông qua việc tận dụng lợi thế về năng lượng [11].
Từ đó, chính sách phát triển nguồn cung năng lượng chính là chính sách gồm các chiến lược, quyết định và hành động trong lĩnh vực kinh tế cụ thể là lĩnh vực năng lượng; nhằm đạt được lợi ích của quốc gia. Cốt lõi của chính sách phát triển nguồn cung năng lượng chính là chính sách “đi ra ngoài” tìm kiếm các nguồn năng lượng. Cũng giống như chính sách đối ngoại, chính sách phát triển nguồn cung năng lượng thường được hoạch định dựa trên nguyên tắc: đảm bảo lợi ích quốc gia, chủ yếu là lợi ích kinh tế và an ninh chính trị và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Quá trình hoạch định chính sách phát triển nguồn cung năng lượng của mỗi quốc gia, trong đó có Trung Quốc, bị chi phối bởi các yếu tố ở ba cấp độ khác nhau: cấp độ cá nhân, cấp độ quốc gia và cấp độ hệ thống quốc tế.
Mức độ chi phối của các yếu tố này đối với hoạch định chính sách của mỗi nước sẽ không giống nhau do những đặc thù của những yếu tố nội lực của nước đó, và việc hoạch định chính sách phát triển nguồn năng lượng phát triển nguồn cung năng lượng của Trung Quốc cũng không phải là một ngoại lệ. Quan điểm của chủ nghĩa Hiện thực về chính sách phát triển nguồn cung năng lượng Chủ nghĩa Hiện thực là trường phái tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, có tiến trình lịch sử phát triển lâu đời. Mặc dù là các quan điểm lẻ tẻ chưa hệ thống hoá thành lý thuyết về năng lượng, tuy nhiên, Chủ nghĩa Hiện thực cũng chú trọng tới vai trò của năng lượng – một trong các thành tố cấu thành quyền lực của quốc gia. Các luận điểm chính của Chủ nghĩa Hiện thực được áp dụng trong quá trình phân tích chính sách phát triển nguồn cung năng lượng là: Quốc gia là chủ thể cơ bản và duy lý.
Theo Chủ nghĩa Hiện thực, chủ thể chính trong hệ thống quốc tế là các quốc gia. Theo đó, Chủ nghĩa Hiện thực cũng gợi mở chính sách phát triển nguồn cung năng lượng của một quốc gia được định hình phần lớn bởi vị trí của quốc gia ấy trong hệ thống quốc tế và sự phân bổ quyền lực trong hệ thống đó. Lợi ích cơ bản của quốc gia là an ninh. Quốc gia sống trong môi trường quốc gia vô chính phủ nên tình trạng xung đột thường xuyên xảy ra trong quan hệ quốc tế.
Vì vậy, quốc gia phải tìm cách nâng cao an ninh quốc gia để đảm bảo cho sự tồn vong của mình. Soi chiếu từ luận điểm này, an ninh năng lượng cũng nằm trong an ninh quốc gia, trong đó, an ninh năng lượng là tiền đề cho sự phát triển của quốc gia. Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia là yêu cầu sống còn đối với một quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Quốc gia luôn tìm cách nâng cao sức mạnh quốc gia để có được quyền lực.