Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu của tác giả nước ngoài về công nghiệp văn hóa và chính sách phát triển công nghiệp văn hóa Ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. CNVH và chính sách phát triển CNVH đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà khoa học và nhà quản lý. Nghiên cứu về CNVH không tách rời với nghiên cứu về chính sách phát triển CNVH.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về CNVH, chính sách phát triển CNVH, trong đó có các công trình tiêu biểu như sau. James Heilbrun and Charles M. Trong nghiên cứu này, tác giả đã bàn đến vấn đề tài chính, kinh tế của mỹ thuật và nghệ thuật biểu diễn ở Hoa Kỳ; chính sách công (CSC) và vai trò của nó đối với các loại hình văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn. Các tác giả không đánh giá cao vai trò của Chính phủ và các chính sách dành cho ngành CNVH [152].
Throsby David and Glenn A. Nghiên cứu đã phân tích một số kinh nghiệm về chính sách công của nghệ thuật biểu diễn và các quan điểm về chính sách công. Phát triển các lý thuyết cơ bản về hành vi của các tổ chức nghệ thuật, người tiêu dùng và khách hàng trung thành; kiểm chứng tính đúng đắn của những lý thuyết này với thực tiễn. Công trình đã trở thành một trong những tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực kinh tế văn hóa.
Cùng với Throsby David, Victor A. Ginsburgh - một nhà kinh tế học người Bỉ, gốc Áo, chuyên nghiên cứu các lý thuyết về kinh tế vi mô, văn hóa kinh tế đã cho ra đời tác phẩm: “Handbook of the Economics of Art and Culture (Sổ tay Kinh tế học Văn hóa và Nghệ thuật) ”. Công trình gồm 05 phần với các nội dung chuyên sâu như: giá trị 12 và việc xác định giá trị trong nghệ thuật và văn hóa; cung, cầu; tiêu dùng và đầu tư; đổi mới và thay đổi công nghệ, thương mại, phát triển đa dạng văn hóa và các vấn đề văn hóa rộng hơn [161]. Tác giả đã phân tích khía cạnh kinh tế của các hoạt động văn hóa, công nghiệp sáng tạo, các dịch vụ văn hóa và bối cảnh văn hóa của kinh tế.
Ông cho rằng, các sản phẩm văn hóa với tư cách là một loại hàng hóa có giá trị cả về kinh tế và văn hóa; sản phẩm văn hóa có điểm giống với sản phẩm vật chất như có giá trị và giá trị trao đổi; tuy nhiên, bên cạnh đó, sản phẩm văn hóa còn mang các giá trị khác như giá trị thẩm mỹ, tinh thần, xã hội, lịch sử, giá trị biểu tượng. Mặt khác quan điểm của Throsby và David cho rằng bản thân mỗi loại hình nghệ thuật đã là một ngành công nghiệp văn hóa [160]. Có thể thấy rằng, khi phát triển đến một mức nhất định, đi kèm với yêu cầu và nhu cầu phát triển bền vững, kinh tế thị trường sẽ gợi ý cho văn hóa nghệ thuật phát huy được tầm ảnh hưởng trong cộng đồng theo hướng mới. CNVH như bước đầu tiên để thực hiện thương mại hóa, nó là quy trình cấu trúc nên một sản phẩm hàng hóa và chú ý đến mọi đối tượng tham gia vào quy trình sản xuất - phân phối - tiêu thụ.
Qua quan niệm của học giả nêu trên cho thấy, cách tiếp cận về ngành CNVH là rất rộng và giữa kinh tế và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau. Điều này cho thấy sự phát triển CNVH đã góp phần đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia, khi đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy di sản văn hóa vừa tạo ra việc làm cho một bộ phận lao động, đóng góp được vào GDP chung cả nước. Hơn nữa, thương mại hóa nghệ thuật biểu diễn truyền thống tạo cơ hội cho những người trẻ tiếp tục có thêm những chất liệu, động lực và kinh nghiệm phát triển trong lĩnh vực này. Tuy vậy, nghiên cứu trên cũng chưa chỉ ra vai trò của các chính sách, thể chế trong phát triển CNVH và vấn đề thương mại hóa nghệ thuật biểu diễn truyền thống có thể tạo ra những hệ quả không mong muốn.
Các chính sách pháp luật về bản quyền, sở hữu trí tuệ lại chưa được nghiên cứu trên nói đến. Nhưng trong thực tế 13 hiện nay các hoạt động trục lợi từ hoạt động biểu diễn, gắn biểu diễn với các hành vi mê tín dị đoan, gây rối trật tự trị an, kích động công chúng đang diễn ra khá phổ biến. Đây cũng là những khoảng trống khi nghiên cứu về các ngành CNVH. Vogel (2001) trong cuốn sách “Entertainment Industry Economics - A Guide for Financial Analysis (Hướng dẫn phân tích tài chính cho nền công nghiệp giải trí)” đã phân tích và chứng minh rằng ngành công nghiệp giải trí là một trong những ngành lớn nhất của nền kinh tế Mỹ và trong thực tế đã trở thành một trong những ngành kinh tế nổi bậc nhất trên phạm vi toàn cầu với các sản phẩm như phim, âm nhạc, chương trình truyền hình, phát thanh, quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn, thể thao.
Nghiên cứu trên đã rất quan tâm tới hoạt động đầu tư, sự phát triển của các doanh nghiệp liên quan đến các hoạt động giải trí. Trong đó có một bộ phận lao động sản xuất hoặc tạo ra lợi nhuận; đặc biệt là nơi sử dụng nhiều nhân sự và vốn; một nhóm các doanh nghiệp hoặc tổ chức sản xuất và tạo ra lợi nhuận khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Đặc biệt nghiên cứu đã chỉ ra khá rõ về hoạt động giải trí như “bất cứ điều gì kích thích, khuyến khích hoặc tạo ra trạng thái vui thú đều có thể được gọi là giải trí” [148]. Qua đó giải trí có thể có nhiều ý nghĩa hơn là chỉ tiêu khiển, đây là cơ sở của nhu cầu hoặc tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ giải trí và giải trí thực sự có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với rất nhiều người và đòi hỏi phải vạch ra những ranh giới rõ ràng hơn.
Những ranh giới như vậy ở đây được thiết lập bằng cách phân loại các hoạt động giải trí thành các phân khúc ngành, nghĩa là các doanh nghiệp hoặc tổ chức có quy mô đáng kể có cơ cấu công nghệ sản xuất tương tự và sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn thu nhập có thể thay thế được. Tuy nhiên, nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào ngành giải trí trong mối qua hệ với kinh tế mà chưa có sự bao quát, phân tích về các ngành CNVH. Mặt khác nghiên cứu chủ yếu nói lên vai trò của giải trí, các chính sách đầu tư cho lĩnh vực giải trí nhưng không đề cập tới các quan điểm, chính sách cũng như cơ chế quản lý đối với lĩnh vực giải trí, nghệ thuật biểu diễn. Radughin (2004) trong cuốn sách “Cultural studies - lectures (Văn hóa học - những bài giảng)”, do ông làm chủ biên đã phân tích văn hóa tinh hoa và văn hóa đại chúng; những tiền đề kinh tế và chức năng xã hội, cơ sở triết học của văn hóa đại chúng.
Mặc dầu tác giả chưa nêu ra khái niệm CNVH nhưng qua công trình này, người đọc có thể hiểu hơn về đặc điểm của CNVH [1]. Tác giả chưa phân tích chi tiết về các chính sách cụ thể mà các quốc gia hoặc tổ chức thực hiện để phát triển CNVH như các chính sách hỗ trợ tài chính, khuyến khích sáng tạo và các chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực CNVH [159]. Almuth Meyer Zollitsch (2013) trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Công nghiệp văn hóa: vai trò trong nền kinh tế và khung chính sách phù hợp với phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam” (tổ chức ngày 13/5/2013 tại Hà Nội), bà Viện trưởng Viện Goethe cho rằng, Việt Nam cần có một đánh giá về tiềm năng các ngành công nghiệp văn hóa, cần xác định được nhu cầu thị trường, người tiêu dùng và chính sách nhà nước, xác định được loại hình mũi nhọn ưu tiên cho ngành công nghiệp văn hóa. Một số nhà khoa học Việt Nam trong buổi hội thảo cho rằng, Việt Nam cần có được các sản phẩm văn hóa chất lượng, vừa đưa lại nguồn thu, vừa là sứ giả quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam [2].
Trong nghiên cứu này tác giả đã phân tích quá trình hội nhập thành thị và nông thôn để 15 phát triển CNVH nông thôn ở Trung Quốc. Tác giả cho rằng, các giải pháp trong quá trình hội nhập phát triển đô thị và nông thôn trong các ngành CNVH nông thôn là bảo vệ văn hóa và sinh thái ở nông thôn; đẩy nhanh hiện đại hóa nông thôn; phát triển CNVH ở nông thôn cần bắt đầu từ những đặc điểm và môi trường sống đặc trưng; tăng cường đổi mới và phát triển bền vững các nguồn lực của mình; tăng cường hỗ trợ chính sách và xây dựng hệ thống phù hợp; tận dụng và kiểm soát thị trường một cách triệt để [169]. Hasan Tahsin Selcuk (2018) trong công trình “The concept of cultural industry policy, a critical perception (Khái niệm về chính sách công nghiệp văn hóa, một nhận thức quan trọng)" đã đưa ra khái niệm về CNVH làm yếu tố cơ bản trong phát triển CNVH ở các thành phố lớn thông qua việc tái cấu trúc lại bản sắc văn hóa của quốc gia. Nghiên cứu đã chỉ ra quá trình đô thị hóa ở các thành phố đã và đang làm cho bản sắc văn hóa ngày càng bị mai một.
Vì vậy, các dự án chuyển đổi đô thị là một trong những công cụ quan trọng trong việc tạo ra bản sắc nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và xã hội của các thành phố. Các chính sách phát triển CNVH cần phải tính đến việc xây dựng không gian sáng tạo khi thực hiện quá trình đô thị hóa [149]. Sau Thế chiến thứ hai, nền văn hóa đại chúng được xây dựng lại tập trung vào tạo ra sự khác biệt trong bối cảnh lãnh thổ - không gian - địa điểm theo một định dạng mới được định nghĩa là “sự phá hủy truyền thống một cách sáng tạo”. Mục tiêu tái cơ cấu vốn để nâng cao khả năng hành động của mình đối với xã hội.
Các nhà khoa học xã hội Đức, được gọi là Trường phái Frankfurt, đã định nghĩa khái niệm về “ngành công nghiệp văn hóa” khi họ xem xét các hình thức phát triển và trao quyền cho chủ nghĩa tư bản. Các học giả này coi khái niệm văn hóa là một sản phẩm công nghiệp theo trật tự của xã hội tư bản chủ nghĩa.