phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ: Chƣơng này đƣa ra những thông tin tổng quan dầu mỏ, an ninh dầu mỏ và chính sách ngoại giao dầu mỏ của Mỹ trên toàn cầu. Đây sẽ là những thông tin nền cho việc phân tích chính sách ngoại giao dầu mỏ của Mỹ với Iraq ở chƣơng sau. CHƢƠNG 2: NỘI DUNG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ VỚI IRAQ: Chƣơng này đi sâu vào phân tích chính sách ngoại giao dầu mỏ của Mỹ với Iraq ở các mặt cơ sở hoạch định, mục tiêu, công cụ thực hiện và thực tế triển khai. CHƢƠNG 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ VỚI IRAQ: Dựa vào các thông tin nền ở chƣơng 1 và những nghiên cứu thực tiễn ở chƣơng 2, chƣơng 3 đánh giá quá trình triển khai đồng thời đƣa ra những dự báo về triển vọng trong tƣơng lai của chính sách này.
5 z CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ 1.1 Một số khá n ệm 1.1 An ninh dầu mỏ 1.1 Khái niệm an ninh dầu mỏ An ninh dầu mỏ là một lĩnh vực quan trọng gắn với vấn đề an ninh năng lƣợng và an ninh quốc gia. An ninh dầu mỏ đƣợc xem là một phần cốt lõi của an ninh năng lƣợng. An ninh dầu mỏ là các hoạt động nhằm đảm bảo việc cung cấp dầu mỏ một cách ổn định và liên tục phục vụ cho nhu cầu sử dụng của mỗi quốc gia. Ngày nay, khái niệm an ninh dầu mỏ không đơn thuần là các nguồn cung cấp dầu mỏ đƣợc đảm bảo nhƣ những thập kỉ trƣớc đây, mà còn đƣợc hiểu một cách toàn diện, bao quát hơn là công tác bảo vệ môi trƣờng đƣợc đảm bảo, giá cả hợp lý và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp phát sinh từ các nhân tố kinh tế, chính trị bên trong và bên ngoài quốc gia liên quan đến quá trình khai thác và sử dụng dầu mỏ1.
Đến nay, mỗi quốc gia có một cách tiếp cận khác nhau về an ninh dầu mỏ. Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ sẽ nhấn mạnh khía cạnh “đảm bảo nguồn cầu” trong hoạt động xuất khẩu của mình, vốn là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách của họ. Nhƣ trƣờng hợp nƣớc Nga, mục tiêu của họ là nhằm xác lập lại quyền kiểm soát của nhà nƣớc đối với “các tài nguyên chiến lƣợc” và các đƣờng ống dẫn dầu chính cũng nhƣ các kênh thị trƣờng mà nƣớc này vận chuyển các sản phẩm dầu mỏ ra đến thị trƣờng thế giới. Với các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ thì an ninh dầu mỏ lại đƣợc xem xét ở khía cạnh những thay đổi về giá cả dầu mỏ sẽ ảnh hƣởng đến cán cân thanh toán của các quốc gia đó nhƣ thế nào.
Đối với Trung Quốc và Ấn Độ, khái niệm an ninh dầu mỏ hiện đƣợc hiểu là khả năng nhanh chóng thích ứng với sự phụ thuộc xuất hiện 1 Nguyễn Minh Mẫn (2011), “An ninh năng lƣợng những năm đầu thế kỉ 21”, Tạp chí khoa học ĐH Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, số 32, tr. 6 z gần đây của các nƣớc này vào thị trƣờng dầu mỏ thế giới, vốn là một sự thay đổi lớn so với những quyết tâm nhằm tự cung tự cấp năng lƣợng trƣớc đây của họ. Đối với Nhật Bản, an ninh dầu mỏ lại có nghĩa là hạn chế mặt tiêu cực của tình trạng khan hiếm trong nƣớc thông qua sự đa dạng hóa nguồn cung dầu mỏ, các hoạt động thƣơng mại và đầu tƣ. Còn nƣớc Mỹ thì hƣớng đến mục tiêu quốc gia về “độc lập năng lƣợng”, một thuật ngữ vốn đã trở thành khẩu hiệu kể từ khi đƣợc Tổng thống Nixon nêu ra bốn tuần sau lần cấm vận dầu mỏ năm 1973.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay, an ninh dầu mỏ và an ninh năng lƣợng cũng đang nổi lên nhƣ những vấn đề toàn cầu hết sức bức thiết2.2 Các biện pháp bảo đảm an ninh dầu mỏ Nhiều quốc gia tiêu thụ dầu đã chú ý đến các xu hƣớng giá cả và sự biến động trong nhiều thập kỷ qua và đang tích cực tìm ra giải pháp để tăng cƣờng an ninh dầu mỏ của họ. Các biện pháp chủ yếu bao gồm tăng dự trữ trong nƣớc, tăng nguồn cung trong nƣớc, tăng cƣờng hiệu quả sử dụng dầu mỏ, tìm nguồn năng lƣợng thay thế và đặc biệt là thực hiện chiến lƣợc ngoại giao dầu mỏ nhằm đa dạng hoá nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài. Ở trong nƣớc, các quốc gia tiêu thụ dầu chú ý đến việc mở rộng kho dự trữ dầu của mình để đối phó với việc giá dầu biến đổi nhanh và bất ngờ. Ngoài ra, các quốc gia có dầu mỏ sẽ thông qua việc mở rộng quy mô của bộ phận sản xuất trong nƣớc dựa vào việc một số vùng có nhiều tiềm năng về dầu mỏ chƣa đƣợc khai thác hết để nới rộng khối lƣợng dầu mỏ cho việc dự trữ, sử dụng cũng nhƣ xuất khẩu.
Ngoài ra, các nƣớc tập trung phát triển công nghệ tiết kiệm và công nghệ mới để giảm bớt năng lƣợng dầu mỏ tiêu dùng và giảm ô nhiễm. Các quốc gia, đặc biệt là các nƣớc phát triển, còn tập trung vào việc phát triển nguồn năng lƣợng mới thay thế dầu mỏ nhƣ năng lƣợng tái 2 Daniel Yergin (2006). “Ensuring Energy Security”, Foreign Affairs, Vol. 69-82 7 z sinh ( gió, địa nhiệt, sinh học…), năng lƣợng thay thế (các loại nhiên liệu dùng cho giao thông đƣợc tạo ra từ các nguồn phi truyền thống để thay thế cho các nguồn xăng, diezel.
bao gồm ethnol, biodiezel, biofuele, pin nhiên liệu, hyđro, nhiệt hạch.), năng lƣợng nguyên tử. Việc tăng nguồn dự trữ đƣợc các quốc gia đặc biệt chú trọng trong an ninh dầu mỏ. Để bảo đảm cho an ninh năng lƣợng, các nƣớc trên thế giới đẩy mạnh xây dựng các kho dự trữ dầu chiến lƣợc. Trung Quốc và Ấn Độ tuyên bố sẽ xây dựng kho dự trữ chiến lƣợc bằng nguồn ngoại tệ dồi dào của mình.
Năm 2008, Ấn Độ đã công bố kế hoạch xây dựng kho dự trữ chiến lƣợc quốc gia có sức 36 triệu thùng, tƣơng lai sẽ tăng mức dự trữ lên đến 108 triệu thùng. Cùng thời gian nêu trên, Trung Quốc tuyên bố xây dựng 4 cơ sở dự trữ chiến lƣợc ở khu vựcduyên hải là Trấn Hải, Đại Sơn, Đại Liên và Hoàng Đảo. Mục tiêu dự trữ dầu mỏ của Trung Quốc là đáp ứng nhu cầu dầu mỏ quốc gia trong 30 ngày nếu xảy ra hiện tƣợng các nguồn cung ứng bất ngờ bị ngƣng trệ (tƣơng ứng với khoảng 300 triệu thùng vào năm 2010)3. Tuy nhiên, các biện pháp trên chỉ mang tính ngắn hạn và hiệu quả cũng rất hạn chế.
Các nƣớc chủ yếu vẫn thực hiện chính sách ngoại giao dầu mỏ để tăng cƣờng tìm kiếm nguồn cung từ bên ngoài.Các nƣớc có nhu cầu cao về năng lƣợng đang tiến hành ngoại giao song phƣơng hoặc đa phƣơng với các khu vực, quốc gia có tiềm năng dầu mỏ dồi dào. Các hội nghị mang tính khu vực và quốc tế liên tục chọn an ninh dầu mỏ và an ninh năng lƣợng làm chủ đề chính. Các tổ chức mang tính khu vực khác thì bổ sung vấn đề an ninh năng lƣợng và hợp tác trong lĩnh vực năng lƣợng vào chƣơng trình hoạt động của mình. Rõ ràng, ngoại giao dầu mỏ trở nên quan trọng đối với chính trƣờng thế giới hơn bao giờ hết và Mỹ cũng không là ngoại lệ khu chính sách ngoại giao dầu mỏ của nƣớc này luôn đƣợc chú trọng thực hiện từ rất sớm.
3 Nguyễn Minh Mẫn (2011), Sđd, tr. 8 z N o o ầu mỏ Nửa cuối thế kỷ XX, thế giới chứng kiến sự bứt phá và chiếm lĩnh vị trí thống soái của dầu mỏ với nền công nghiệp và dịch vụ xã hội, bỏ xa nhiên liệu hóa thạch truyền thống là than đá. Dầu mỏ đƣợc coi là “vàng đen” chính vì sự ứng dụng rộng rãi trong gần nhƣ mọi hoạt động sống của con ngƣời. Chính vì vai trò là nguồn năng lƣợng quan trọng và khó có thể thay thế mà dầu mỏ có thể coi là thứ thuốc bôi trơn cho nền kinh tế phát triển đối với mọi quốc gia.
Một quốc gia muốn duy trì đƣợc một nền kinh tế ổn định, và phát triển đều cần phải có một chiến lƣợc năng lƣợng dầu mỏ một cách hợp lý, một chính sách an ninh năng lƣợng toàn diện đảm bảo đủ nguồn dầu mỏ cần thiết cung cấp cho cả nền kinh tế. Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ, thì ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ là xƣơng sống cho cả một nền kinh tế. Nó đóng vai trò là nguồn thu nhập chính cho cả một nền kinh tế quốc gia. Với vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói đến ở trên, sự ổn định của sản lƣợng khai thác dầu mỏ rất quan trọng đối với an ninh năng lƣợng của các quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, tình trạng khan hiếm dầu mỏ kèm theo nhu cầu ngày càng tăng của loại hàng hoá hữu hạn này đã lôi kéo mọi quốc gia, đặc biệt là các nƣớc lớn vào cuộc chiến vì dầu mỏ này. Nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của mình, các quốc gia trên thế giới đang tìm mọi cách để đảm bảo và tăng cƣờng nguồn cung dầu ổn định cho mình. Hơn thế nữa, dầu mỏ còn là yếu tố tác động mạnh mẽ đến an ninh quốc gia. Các cuộc chiến tranh sặc mùi dầu mỏ trong lịch sử chứng minh dầu mỏ là một con dao 2 lƣỡi: là yếu tố đảm bảo an ninh cho các quốc gia đồng thời cũng là yếu tố khiến các quốc gia khác muốn phá vỡ môi trƣờng an ninh của các quốc gia xuất khẩu dầu.
Dầu mỏ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong kinh tế, an ninh quốc gia và an ninh thế giới, nó còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quan hệ 9 z quốc tế. Dầu mỏ đƣợc coi là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoạch định chính sách ngoại giao của một quốc gia. Với tầm quan trọng và tính khan hiếm, khó thay thể của mình, một quốc gia muốn có đƣợc nền kinh tế phát triển và vị thế chính trị trên thế giới bắt buộc phải chú trọng đến ngoại giao dầu mỏ. Nói các khác, dầu mỏ có thể chi phối chính sách ngoại giao của một quốc gia.
Tùy vào các vấn đề về dầu mỏ vào từng thời điểm mà mỗi quốc gia phải điểu chỉnh thậm chí thay đổi cả chính sách ngoại giao của mình đối với nƣớc khác hay đổi với một khu vực.