Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu Chương 5: Kết luận. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các lý thuyết liên quan 2.1 Khái niệm về chiến lược Chiến lược là một từ có nhiều nghĩa, tất cả đều có liên quan và hữu ích đối với những người chịu trách nhiệm phát triển chiến lược của một công ty, doanh nghiệp hoặc tổ chức. Dưới đây là các định nghĩa về chiến lược của nhiều tác giả khác nhau: Chandler Jr (1969) định nghĩa: “Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, lựa chọn các cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.” Theo định nghĩa này, chiến lược là quá trình xác định các mục tiêu và sử dụng các nguồn lực đó để đạt được các mục tiêu đó đồng thời đảm bảo các nguồn lực và các chính sách quan trọng được tuân thủ. Về mặt hình thức, một chiến lược có thể được định nghĩa là một kế hoạch hoặc bản đồ kinh doanh chung nhằm điều chỉnh một tổ chức hướng tới các mục tiêu mong muốn.
Mintzberg (1987) là một nhân vật hàng đầu trong các khái niệm về chiến lược hiện đại. Theo nghiên cứu của ông, khái niệm chiến lược có thể bao gồm năm yếu tố (5P): kế hoạch (Plan); mưu lược (Ploy); phương thức hành động (Pattern), định vị (Position) và triển vọng (Perspective). Chiến lược được hiểu là một kế hoạch nếu nó là một hướng dẫn có ý thức, có chủ đích, tình huống hoặc hướng dẫn cho một quá trình hành động. - Về cơ bản, tất cả các chiến lược nói chung là phương tiện tạo ra sự thay đổi.
Nghĩa là, nó bao gồm những gì nằm giữa ý định (mục tiêu và kết quả), hoặc giữa kỳ vọng và khả năng thực tế để đạt được điều gì đó. Các chiến lược đại diện cho sự thay đổi về chất bao gồm lập kế hoạch dự phòng rộng hơn, trong khi lập kế hoạch dài hạn thường chỉ là một phép chiếu tuyến tính của hiện tại.1) 7 Khung kỹ thuật phát triển chiến lược Phân tích chính sách, mục tiêu và bối cảnh phát triển KTXH Những định hướng chiến lược: Lập kế hoạch chiến lược -Tầm nhìn, quan điểm, tư tưởng -Tổ chức các nguồn lực Thiết kế quy trình hành -Dự báo các xu thế và giá trị động thực hiện kế hoạch -Những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược Bản thảo chiến lược Thẩm định – Đánh giá văn bản -Dữ liệu báo cáo -Phương pháp luận và kỹ thuật -Đánh giá kế hoạch chiến lược -Đánh giá chương trình hành động Phê chuẩn chiến lược Phát hiện và Chỉ đạo triển khai – xúc tiến chiến lược: điều chỉnh: -Bộ máy và nguồn lực -Phát hiện -Các hoạt động trong và ngoài ngành -Giải thích -Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn -Phân tích -Tổng hợp -Kết luận -Đề xuất Mô hình – Tiêu chí – Tiêu chuẩn Đánh giá chiến lược thường xuyên và định kỳ Hình 2.1 Khung khái niệm Chiến Lược của Đặng (2006) 8 2.2 Khái niệm về Tự Động Hóa và Tự Động Hóa sản xuất Từ "tự động hóa" xuất phát từ từ "automose" trong tiếng Hy Lạp và có nghĩa là thứ gì đó có sức mạnh tự phát hoặc tự hành. Thuật ngữ "tự động hóa" lần đầu tiên được đặt ra vào năm 1936 bởi DS Harder, khi đang làm việc cho General Motor Company ở Hoa Kỳ. Ông đã sử dụng thuật ngữ tự động hóa để chỉ việc xử lý tự động các bộ phận giữa các quy trình sản xuất gia tăng.
Theo Encyclopedia of Library and Information Science, “tự động hóa là công nghệ liên quan đến việc thiết kế và phát triển quy trình và hệ thống nhằm giảm thiểu sự cần thiết của sự can thiệp của con người vào hoạt động” (Kent, 1998). Theo McGraw Hill Encyclopedia of Science and Technology, tự động hóa là “một từ được tạo ra không có ý nghĩa kỹ thuật được chấp nhận chính xác nhưng được sử dụng rộng rãi để ngụ ý khái niệm, phát triển hoặc sử dụng tự động hóa cao máy móc hoặc hệ thống điều khiển ” (McGraw & Staff, 1982) Tự động hóa ngôn ngữ tiếng Anh quốc tế mới thứ ba của Webster được định nghĩa là “hoạt động được điều khiển tự động của một thiết bị, quy trình hoặc hệ thống bằng thiết bị cơ học hoặc điện tử diễn ra sự quan sát, nỗ lực và quyết định của các cơ quan của con người”. (Webster, 1981) Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, tự động hóa là “ứng dụng của điều khiển tự động cho bất kỳ ngành công nghiệp hoặc khoa học nào theo cách mở rộng, việc sử dụng các thiết bị điện tử hoặc cơ khí để thay thế sức lao động của con người” (Simpson, 1989) Theo Trần & Nguyễn (2006) Tự động hóa là một kỹ thuật sản xuất sử dụng các điện từ, hệ thống cơ khí và máy tính để vận hành và điều khiển các quá trình sản xuất. Công nghệ này bao gồm: • Máy tự động để gia công các bộ phận; hệ thống lắp ráp tự động; robot công nghiệp; hệ thống tích trữ và vận chuyển vật liệu; hệ thống giám sát và kiểm soát 9 chất lượng tự động; hệ thống kiểm soát quá trình; hệ thống thu thập và xử lý dữ liệu phục vụ điều hành và giám sát các hoạt động sản xuất.
Quá trình sản xuất có thể được chia thành: -Sản xuất rời rạc, ví dụ: sản xuất cơ khí, lắp ráp ô tô, lắp ráp điện từ .Sản xuất theo quy trình liên tục như nhà máy hóa chất, giấy, xi măng,. Amber và cộng sự (1962) Mức độ thay thế và kiểm soát năng lượng của con người trong sản xuất máy móc. Sheridan (1980) Mức độ tự động hóa bao gồm các vấn đề phản hồi và sự phân chia tương đối các chức năng thành mười cấp. Kern & Schumann (1970) Mức độ cơ giới hóa được định nghĩa là mức độ kỹ thuật trong năm lĩnh vực hoặc chức năng công việc khác nhau.
Billings (1997) Mức độ tự động hóa. Từ điều khiển thủ công trực tiếp đến vận hành gần như tự động với vai trò tối thiểu của con người. Endsley (1997) Mức độ tự động hóa trong bối cảnh của các hệ thống chuyên gia là phù hợp nhất cho các nhiệm vụ nhận thức như khả năng đáp ứng và ra quyết định dựa trên thông tin hệ thống. Satchell (2018) Tự động hóa được định nghĩa là sự chia sẻ giữa con người và máy móc với sự tham gia của con người ở các mức độ khác nhau.
Parasuraman và cộng sự (2000) Mức độ tự động hóa là sự liên tục từ hoạt động thủ công đến hoàn toàn tự động. Groover (2016) Mức độ tự động hóa có thể được định nghĩa là mức độ kiểm soát máy móc có thể được vận hành bằng tay, bán tự động hoặc hoàn toàn tự động. Tự động hóa quá trình sản xuất là công nghệ sản xuất được sử dụng hệ thống cơ khí, hệ thống điện tử và máy tính để vận hành và điều khiển quá trình sản xuất (Trần và cộng sự, 2001) 2.3 Khái niệm chế biến gỗ Chế biến gỗ là quá trình biến đổi gỗ nguyên liệu dưới tác động của thiết bị, máy móc hoặc công cụ, hóa chất để tạo thành sản phẩm có hình dạng, kích thước và thành phần hóa học khác hoàn toàn so với nguyên liệu ban đầu (Lê, 2011). 10 Ngành chế biến gỗ là một lĩnh vực sản xuất vật chất, giữ vai trò trung tâm của nền kinh tế.
Nó sử dụng nguyên liệu gỗ qua quá trình chế biến để tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của xã hội (Lê, 2011) 2.4 Lý thuyết về ma trận SWOT Ma trận SWOT (Công cụ lập kế hoạch chiến lược) lần đầu tiên được giới thiệu bởi nhà tư vấn quản lý và kinh doanh người Mỹ Albert S. SWOT là viết tắt của Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Đe doạ và có thể được phân tích là quá trình mà ban lãnh đạo xác định các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến công ty và các hoạt động kinh doanh của công ty (Weihrich, 1982a) Theo Culp và cộng sự (2016), sức mạnh của phân tích SWOT nằm ở năng lực nội tại, các yếu tố tích cực của một công ty và các mối quan hệ mà họ có để đạt được mục tiêu và phục vụ khách hàng của họ một cách kịp thời và hiệu quả. Điểm yếu là các yếu tố ràng buộc bên trong hoặc có thể cản trở hoạt động của tổ chức. Nói một cách khác thì điểm mạnh và điểm yếu của một công ty là các yếu tố bên trong.
Cơ hội trong phân tích SWOT là các yếu tố hoặc đặc điểm cho phép một công ty kết nối với các tổ chức bên ngoài. Chúng là những yếu tố bên ngoài mà công ty có thể sử dụng để làm lợi thế của mình. Các mối đe dọa liên quan đến các yếu tố tiêu cực bên ngoài tổ chức có thể cản trở hoặc trì hoãn các mục tiêu có thể đạt được. Do đó, cơ hội và đe dọa được coi là các yếu tố môi trường.
Ví dụ về các yếu tố khi tiến hành phân tích SWOT liên quan đến các khía cạnh nhân khẩu học như đối thủ cạnh tranh, giá hàng hóa và hệ thống quản lý chuỗi cung ứng tốt nhất. Ma trận SWOT thường được phân loại trong một bảng hoặc ma trận 2x2 (Bảng 2. Việc tích hợp các yếu tố từ Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Đe doạ nhằm giúp các nhà quản lý có được bức tranh toàn cảnh về bốn yếu tố (Leigh, 2009).1 Ma trận SWOT Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W) 1 1 2 2 … … n n Cơ hội (O) Thách thức (T) 1 1 2 2 … … n n 2.5 Lý thuyết về phương pháp AHP Các tài liệu ban đầu về AHP cho biết rằng nó được Saaty phát triển lần đầu tiên vào năm 1971 (Saaty, 1980a) và được sử dụng như một công cụ ra quyết định đa tiêu chí. Nó là một phương pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề phức tạp và có cấu trúc có thể có sự tương tác và tương quan giữa các mục tiêu và mục tiêu khác nhau.
Một vấn đề khó khăn với kỹ thuật này là nhiều tiêu chí được chia thành nhiều cấp bậc, trong đó cấp cao nhất là mục tiêu, cấp giữa là tiêu chí và tiêu chí phụ, và cấp thấp nhất cung cấp tiêu chí, các lựa chọn, hình thành cấu trúc phân cấp.