Chương 1: Cơ sở lý luận về chế độ tự quản thành phố và mô hình tự quản thành phố ở một số quốc gia châu Á; Chương 2: Vấn đề đổi mới mô hình tổ chức chính quyền thành phố ở Việt Nam hiện nay. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN THÀNH PHỐ VÀ MÔ HÌNH TỰ QUẢN THÀNH PHỐ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á 1. Khái quát về chế độ tự quản thành phố 1. Khái quát về thành phố Hiện nay, vẫn chưa có một sự thống nhất mang tính quốc tế áp dụng như nhau cho các quốc gia mà mỗi quốc gia đều có định nghĩa về thành phố theo những tiêu chí của riêng mình.
Tiêu chí phổ biến nhất hiện nay chính là dựa trên quy mô và mật độ dân số 1. Riêng các quốc gia châu Á, các quốc gia này xác định thành phố chủ yếu dựa trên quy mô về dân số, có thể kể đến như: Philippines, với yêu cầu về lượng dân cư ít nhất là 250,0002 hay ở Bangladesh là từ 100,000 trở lên3. Ngoài ra, việc xác định thành phố còn có thể kết hợp với các tiêu chí khác như hành chính, kinh tế, đặc điểm đô thị, chính trị,… Ví dụ, Luật tự quản địa phương của Nhật Bản quy định, thành phố phải là một đô thị hội đủ các điều kiện cơ bản sau: (1) Dân số phải từ 50,000 trở lên; (2) Ít nhất 60% số hộ gia đình sống ở khu vực trung tâm đô thị; (3) Ít nhất 60% số hộ gia đình phải làm việc trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp hoặc các ngành nghề khác của đô thị4. Bên cạnh dân số thì ngành nghề cũng là tiêu chí quan trọng không kém, hoạt động phi nông nghiệp là tiêu chí bắt buộc ở hầu hết các thành phố là đô thị trên thế giới.
Chẳng hạn như, theo tổ chức đô thị quốc tế, đô thị là khu vực địa lý có vị trí trung tâm của một lãnh thổ, có số dân và mật độ cao, hầu hết hoạt động phi nông nghiệp, có mật độ cao các yếu tố thuộc về con người như nhà cửa, tòa nhà thương mại, đường giao thông, cầu và đường sắt5. Ở Việt Nam, các thành phố được thành lập theo quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội6 dựa trên một số tiêu chí nhất định như diện tích lãnh thổ, dân số, tình trạng công trình hạ tầng xã hội hay mức độ quan trọng về kinh tế, chính trị và đều là các đô thị từ loại III trở lên7. Vì đặc điểm của các thành phố là mang tính “mở” nên chúng không hoàn toàn giống nhau giữa các quốc gia, ngoại trừ một điểm chung duy nhất: thành phố là một loại đơn vị hành chính lãnh thổ trong tổ chức CQĐP của các quốc gia và hiện nay, 1 United Nations (2013), World Economic and Social Survey 2013, p. Xem thêm tại: http://www.org/en/development/desa/policy/wess/wess_current/wess2013/Chapter3.org/wiki/Cities_of_the_Philippines (truy cập ngày 25/3/2018).org/wiki/List_of_cities_and_towns_in_Bangladesh (truy cập ngày 25/3/2018).org/wiki/Cities_of_Japan (truy cập ngày 25/3/2018).
5 National Geographic, Urban area. Xem thêm tại: http://nationalgeographic.org/encyclopedia/urban-area (truy cập ngày 15/6/2017). 6 Điều 70, Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013). 7 Điều 1 Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 Về phân loại đô thị.
8 hầu hết các quốc gia đều có cấp CQĐP là chính quyền thành phố8. Các thành phố đa phần là đơn vị hành chính lãnh thổ được thừa nhận nhiều hơn là thành lập nên có thể có tiêu chuẩn về diện tích và dân số nhưng cũng có thể chỉ đơn thuần là một vùng lãnh thổ có kết cấu chặt chẽ về dân cư, địa lý, văn hóa, nghề nghiệp,…9 Thành phố có thể là cấp đơn vị hành chính thấp nhất như ở Nhật Bản10, cũng có thể là đơn vị hành chính cấp trung gian như ở Campuchia11, Indonesia12 hoặc là đơn vị hành chính cấp cao nhất ở địa phương như ở Mông Cổ13. Ở một số quốc gia, thành phố có thể tồn tại ở nhiều cấp hành chính khác nhau, ví dụ như Việt Nam có năm thành phố trực thuộc trung ương là đơn vị hành chính cấp tỉnh, các thành phố còn lại là cấp hành chính trung gian - thành phố thuộc tỉnh, tương đương cấp huyện. Một điểm lưu ý khi nhắc đến đơn vị hành chính lãnh thổ là thành phố chính là sự khác biệt cơ bản giữa hai thuật ngữ thành phố và đô thị.
Theo Unicef, đô thị là lãnh thổ hành chính, chính trị, có ngưỡng số dân nhất định và có mật độ dân số tương ứng, chức năng kinh tế chủ yếu là hoạt động phi nông nghiệp, có đặc điểm cơ sở hạ tầng của đô thị14. Tên gọi đô thị phổ biến ở các nước là thành phố (có những quốc gia chỉ thừa nhận thành phố là đô thị như: Slovakia hay Uruquay15). Ngoài ra, với các đô thị lân cận và vùng ngoại ô thường sẽ được gọi là thị trấn16, một số nước còn có làng, quận17. Ở những nước đô thị hóa sớm, các loại đô thị khác nhau thường hợp thành một khu đô thị, trong đó, thành phố được xác định là đô thị trung tâm của khu đô thị, thị trấn và ngoại ô là các vùng lân cận.
Như vậy, hai khái niệm thành phố và đô thị không hoàn toàn đồng nhất với nhau trong mọi trường hợp. Hiện nay, phần lớn các thành phố là mang tính chất đô thị, nhưng cũng có những thành phố vẫn còn những vùng lãnh thổ mang tính chất 8 Ngoại trừ một số quốc gia có diện tích lãnh thổ quá nhỏ như Singapore, Vương quốc Monaco,… thì không có cấp chính quyền địa phương mà nhà nước thực hiện quản lý thống nhất trên toàn quốc. Xem thêm tại: Mai Thị Mai (2016), “Tính tự quản của địa phương – Sự ảnh hưởng đến mô hình tổ chức chính quyền địa phương của Hoa Kỳ và Trung Quốc’’, Tạp chí Luật học số, (7), tr. 9 Nguyễn Thị Thiện Trí (2016), “Tự quản thành phố trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (2), tr.org/wiki/Administrative_divisions_of_Japan (truy cập ngày 26/3/2018).org/wiki/Administrative_divisions_of_Cambodia (truy cập ngày 26/3/2018).org/wiki/Subdivisions_of_Indonesia#First_level (truy cập ngày 26/3/2018).org/wiki/Provinces_of_Mongolia (truy cập ngày 26/3/2018) 14 Unicef (2012), The state of the world’s children, p.
Xem thêm tại: https://www.org/sowc2012/pdfs/SOWC-2012-DEFINITIONS. 15 United Nations Statistics Division - Demographic and Social Statistics, “Definition of urban”, Demographic Yearbook 2005, table 6. Xem thêm tại: http://unstats.org/unsd/demographic/sconcerns/densurb/Defintion_of%20Urban. 16 Theo World bank khi đề cập đến đơn vị lãnh thổ đô thị thì chỉ gồm hai loại là: thành phố và thị trấn.
Xem thêm tại: World bank (2000), The cities in Transition, The International Bank for Reconstruction and Development, WB. 17 Hoa Kỳ, Anh và các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh, Mỹ. Hơn nữa, tính chất đô thị không chỉ thuộc về thành phố mà còn có thể xuất hiện ở các loại đơn vị lãnh thổ khác như: quận, thị xã, thị trấn,…19. Vì vậy, tùy từng trường hợp mà cần có sự phân biệt nhất định giữa hai thuật ngữ thành phố và đô thị.
Hai khái niệm thành phố và đô thị chỉ có thể đồng nhất với nhau trong trường hợp tất cả các vùng lãnh thổ của thành phố đã được đô thị hóa hoàn toàn. Khái niệm, đặc điểm của chế độ tự quản thành phố 1. Khái niệm về chế độ tự quản thành phố Tự quản thành phố (municipal autonomy) là một khái niệm có sự ra đời và phát triển song hành cùng với khái niệm tự quản địa phương (local autonomy hoặc local self-government) bởi lịch sử hình thành tự quản địa phương cũng bắt đầu bằng lịch sử của tự quản thành phố20. Chính vì vậy mà tính chất của tự quản thành phố cũng tương tự như tự quản địa phương.
“Tự quản” theo nghĩa chung nhất là “tự mình trông coi, quản lý công việc, không cần ai điều khiển”21. Tự quản còn được hiểu là tính độc lập tương đối, khả năng tự quyết định của một tổ chức, cá nhân so với một tập thể hay quyền lực trung ương; sự tự chịu trách nhiệm nhằm phát huy tính sáng tạo, năng động, linh hoạt của chủ thể ấy dưới sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước để đạt được hiệu quả cao nhất (giám sát chứ không quản lý, chỉ huy) 22. Khái niệm tự quản địa phương hiện nay cũng được ghi nhận trong rất nhiều các văn bản pháp lý quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia. Hiến chương Châu Âu về tự quản địa phương được thông qua vào năm 1985 có định nghĩa về tự quản địa phương như sau: “Tự quản địa phương được hiểu là quyền và khả năng thực sự của cơ quan tự quản địa phương được quy định và quản lý một phần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm, nhằm phục vụ lợi ích của dân cư địa phương” 23.
Dự thảo Hiến chương quốc tế về chính quyền tự quản địa phương của Liên Hợp quốc cũng đưa ra khái niệm về tự quản địa phương: “Chính quyền tự quản địa phương biểu thị quyền và khả năng của chính quyền địa phương, trong giới hạn của luật pháp để điều tiết và quản lý một phần 18 Nguyễn Thị Thiện Trí (2016), tlđd, tr.org/encyclopedia/urban-area/ (truy cập ngày 26/3/2018). 20 Nguyễn Thị Thiện Trí (2016), tlđd, tr. 21 Hùng Thắng, Thanh Hương, Bàng Cẩm (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Thống kê, TP.Hồ Chí Minh, tr.
22 Mai Thị Mai (2016), “Tự quản của địa phương – Sự ảnh hưởng đến mô hình tổ chức chính quyền địa phương của Hoa Kỳ và Trung Quốc”, Tạp chí Luật học số, (7), tr. 23 Bùi Xuân Đức, “Tự quản địa phương: Vấn đề nhận thức và vận dụng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (1), tr. 10 đáng kể các hoạt động công cộng theo đúng trách nhiệm của mình và vì lợi ích của nhân dân địa phương”24. Từ khái niệm về tự quản và tự quản địa phương, có thể đưa ra định nghĩa về chế độ tự quản thành phố như sau: Tự quản thành phố là quyền và khả năng độc lập tương đối của chính quyền thành phố so với chính quyền trung ương.
Trong giới hạn của luật pháp, chính quyền thành phố được tự mình đưa ra các quyết định để quản lý, vận hành và điều chỉnh các vấn đề thuộc phạm vi của thành phố một cách chủ động, trên cơ sở tự chịu trách nhiệm vì lợi ích của người dân địa phương. Từ định nghĩa này, có thể hiểu khái quát về chế độ tự quản thành phố qua ba nội dung chính sau: Thứ nhất, tự quản thành phố là khả năng của người dân thành phố được tự mình đưa ra các quyết định để quản lý, vận hành và điều chỉnh những vấn đề thuộc phạm vi của thành phố.