CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ VPN IPSEC Khi một gói tin truyền dẫn để đi đến đích trong môi trường mạng công cộng nó có thể gặp phải các nguy cơ tấn công sau - Gói tin bị bắt giữa chừng và bị đọc trộm thông tin trên gói tin - Gói tin bị bắt, bị thay đổi và bị phá nội dung mang theo, làm cho người nhận nhận được thông điệp không chính xác - Gói tin bị gửi đi bởi một người nặc danh mà không phải là người đang được chờ đợi gửi đến Để có thể chống lại các nguy cơ trên, một giải pháp được phát triển và rất phổ biến hiện nay đó là Virtual Private Network-VPN VPN- Mạng riêng ảo được định nghĩa như là một mạng kết nối được phát triển trên một cơ sở hạ tầng mạng chia sẻ, như là Internet, với các chính sách và tính năng bảo mật như là một mạng riêng Mạng riêng ảo có thể là mạng giữa hai hệ thống đầu cuối, hoặc là có thể giữa hai hay nhiều mạng với nhau. Một VPN có thể xây dựng bằng cách sử dụng các đường hầm hoặc các cơ chế mã hoá hoặc là kết hợp cả hai. Các đường hầm VPN là các kết nối bảo mật được hình thành giữa hai điểm đầu cuối thông qua môi trường Internet. VPN có thể xảy ra ở bất kỳ lớp nào của chồng giao thức OSI.
Một VPN là một kiến trúc khác của WAN hứa hẹn sẽ thay thế hoặc bổ sung cho các mạng riêng hiện tại đang dùng các đường thuê trực tiếp hoặc các kết nối Fram relay, ATM. Các ưu điểm của VPN so với các mạng riêng khác là : -VPN sẽ rẻ hơn các mạng riêng khác, ở tất cả các khía cạnh , bao gồm chi phí băng thông, chi phí đầu tư thiết bị mạng, chi phí vận hành. Chi phí cho một kết nối dạng site-to-site VPN thông thường giảm từ 20-40% so với việc xây dựng mạng riêng bằng các Luận văn thạc sỹ khoa học Chất lượng dịch vụ VPN IPSec - 15 - đường thuê riêng thông thường. Trong trường hợp mô hình truy cập từ xa thì chi phí giảm 60-80%.
- VPN cung cấp sự linh hoạt bằng việc thiết lập các kết nối trên một hạ tầng có sẵn và rất phổ biến là Internet. Nó cho phép các công ty có thể nhanh chóng và hiệu quả về mặt chi phí khi mở rộng kết nối hoặc xoá bỏ một kết nối với một chi nhánh, một văn phòng đa quốc gia, một người làm việc ở xa, các người dùng di động chuyển vùng và các đối tác kinh doanh có yêu cầu. - VPN cung cấp sự đơn giản trong việc quản lý hơn là việc sở hữu và vận hành một mạng riêng. Các công ty có thể chuyển sự quản lý này cho nhà cấp dịch vụ địa phương và chỉ quản lý phần mạng lõi thay là việc quản lý phần truy cập.
- VPN cung cấp kỹ thuật đường hầm làm giảm nhiệm vụ quản lý. Một mạng lõi IP loại bỏ các PVC liên quan tới các giao thức hướng kết nối chẳng hạn như Frame Relay hoặc ATM. Nó tạo ra các kết nối đầy đủ tới các điểm mình muốn trong khi giảm sự phức tạp và chi phí.1 Các kỹ thuật mạng riêng ảo Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, VPN là một kết nối giữa hai điểm với nhau thông qua môi trường mạng công cộng để hình thành một kết nối điểm nối điểm về mặt logic. Kết nối logic đó có thể được hình thành trên lớp 2 hoặc lớp 3 của mô hình OSI, và các kỹ thụât VPN có thể được chia ra một cách logic thành các mô hình VPN lớp 2 và VPN lớp 3.
Dựa trên các khái niệm đó, việc thiết lập các mô hình kết nối giữa các văn phòng thông qua mội trường lớp 2 và lớp 3 VPN là giống nhau. Sự khác nhau của các khái niệm liên quan đến việc thêm tiêu đề ở phía trước phần tải để có thể đưa gói tin đến đích. Trong trường hợp của các kết nối VPN lớp 2, tiêu đề chuyển tiếp là ở lớp 2, còn trong trường hợp kết nối VPN ở lớp 3 nó cũng tương tự. Kết nối ATM, Frame Relay là kết nối VPN lớp 2, còn các kết nối GRE, L2TP, MPLS và IPSec là các ví dụ của kỹ thuật VPN lớp 3.1 VPN lớp 2 VPN lớp 2 vận hành ở lớp 2 trong mô hình tham chiếu OSI; chúng là dạng kết nối point-to-point và thiết lập kết nối giữa các văn phòng trên một mạch ảo.
Một mạch ảo là một kết nối end-to-end dạng logic giữa hai đầu cuối trên mạng. Mạch ảo được cấu hình end-to-end và nó thường được gọi là mạch ảo vĩnh viễn (PVC). Một mach ảo end-to-end Luận văn thạc sỹ khoa học Chất lượng dịch vụ VPN IPSec - 16 - động cũng có thể được dùng và được gọi là SVC. SVC được dùng ít hơn bởi vì độ phức tạp của nó trong việc khắc phục lỗi.
ATM và Frame Relay là hai trong các kỹ thụât nổi tiếng nhất của kỹ thuật VPN lớp 2. Các nhà cung cấp ATM và Frame Relay có thể cung cấp các kết nối site-to-site riêng rẽ tới một trung tâm bằng cách cấu hình một PVC qua môi trường backbone chia sẻ. Một trong các ưu điểm của VPN lớp 2 là tính độc lập của tải lưu lượng lớp 3 mà nó có thể mang trên đó. Một PVC của Frame Relay hoặc ATM giữa các văn phòng có thể mang nhiều kiểu lưu lượng lớp 3 khác nhau chẳng hạn IP, IPX, AppleTalk, IP multicast,.
ATM và Frame Relay cũng cung cấp các đặc tính QoS tốt, nó là một môi trường đặc biệt tốt cho các ứng dụng nhạy cảm với trễ như thoại.2 VPN lớp 3 Một kết nối giữa hai văn phòng có thể được định nghĩa như là kết nối VPN lớp 3 nếu các tiêu đề chuyển tiếp là ở lớp 3. Các ví dụ cho mô hình ở lớp này là GRE, MPLS và IPSec VPN. VPN lớp 3 có thể trở thành point-to-point để có thể kết nối hai văn phòng chẳng hạn GRE và IPSec, hoặc có thể thiết lập một kết nối any-to-any tới nhiều văn phòng sử dụng MPLS.3 Các đường hầm GRE Generic routing encapsulation- giao thức đóng gói định tuyến chung được thiết kết đầu tiên bởi Cisco và sau đó được chuẩn hoá bởi RFC 1701. Một tiêu đề IP cho GRE được định nghĩa trong RFC 1702.
Một hầm GRE được tạo giữa hai văn phòng thông qua các địa chỉ IP kết nối có thể được mô tả như một VPN, bởi vì dữ liệu riêng giữa hai văn phòng được đóng gói trong một tiêu đề chuyển tiếp GRE. Bởi vì mạng Internet công cộng có khả năng cung cấp ở mọi nơi và trở nên rất phổ biến trên thế giới, do vậy nó tạo nên khả năng kết nối giữa nhiều văn phòng của một tập đoàn dùng các đường hầm GRE. Trong mô hình này, mỗi văn phòng của tập đoàn cần duy nhất một kết nối vật lý tới nhà cung cấp dịch vụ internet, như là tất cả kết nối tới tất cả các văn phòng khác thông qua các đường hầm GRE. Mặc dù VPN được xây dựng dựa trên môi trường Internet dùng GRE là có thể thực hiện được, tuy vậy chúng hầu như chỉ dùng cho các dữ liệu riêng bên trong tập đoàn do các hạn chế về bảo mật dữ liệu trong mô hình GRE.
Luận văn thạc sỹ khoa học Chất lượng dịch vụ VPN IPSec - 17 - 1.4 MPLS VPN Được khởi tạo bởi Cisco, chuyển mạch nhãn đa giao thức bắt đầu được biết đến như là chuyển mạch nhãn và sau đó được chuẩn hoá bởi IETF thành MPLS. Các nhà cung cấp dịch vụ đang phát triển nó thành dịch vụ VPN MPLS tới khách hàng. Một nguyên tắc phổ biến trong tất cả các kỹ thuật VPN là kỹ thụât đóng gói của dữ liệu riêng với các tiêu đề chuyển tiếp; VPN MPLS dùng các nhãn để đóng gói các dữ liệu nguyên bản, hoặc tải, để hình thành VPN giữa các văn phòng. Một trong những ưu điểm nổi bật của VPN MPLS so với các kỹ thụât VPN khác là nó cung cấp các khả năng cấu hình mềm dẻo giữa các điểm kết nối VPN.
Chẳng hạn, nếu ba điểm của một tập đoàn đều phải kết nối tới các điểm khác dạng any-to-any (full mesh) cấu hình sử dụng ATM, Frame Relay, GRE, hoặc IPSec, mỗi văn phòng cần hai mạch ảo, hoặc đường hầm, để kết nối đến văn phòng khác. Ngoài ra, để thêm vào một văn phòng thứ tư đạt được cấu hình full-mesh thì cấu hình cần thêm ba đường hầm nữa, hoặc số lượng tương ứng mạch ảo, ở mỗi phía, và thực hiện các cuộc gọi cho sự thay đổi cấu hình ở tất cả các văn phòng. Nếu cả ba văn phòng đều kết nối qua MPLS , sự thêm vào văn phòng thứ tư cần sự thay đổi ở văn phòng thứ tư. Trong thực tế, không có các đường hầm kết nối point-to-point ảo cho các kết nối dùng VPN MPLS.
Kết nối dạng any-to-any giữa các văn phòng VPN và kết nối extranet thông qua VPN có thể dễ dàng thực hiện thông qua MPLS so với kỹ thuật đường hầm khác dùng GRE. Một trong những hạn chế của VPN MPLS là việc mở thêm kết nối giữa các văn phòng VPN bị hạn chế bởi việc các văn phòng đó có nằm trong điểm cung cấp dịch vụ MPLS hay không. Mặc dù một hầm GRE có thể được dùng thông qua internet để có thể mở rộng phạm vi của mạng, nhưng bản thân GRE có những hạn chế riêng về mặt bảo mật.5 IPSec VPN Một trong những yêu cầu chính mà tất cả những người dùng VPN quan tâm đó là việc bảo mật dữ liệu khi truyền tải qua mạng công cộng. Nói một cách khác, bằng cách nào đó để có thể yên tâm rằng dữ liệu của họ không bị nghe lén thông qua mạng VPN ? Việc mã hoá dữ liệu là một cách để có thể bảo vệ nó.
Mã hoá dữ liệu có thể được thực hiện bằng các phát triển các thiết bị mã hoá và giải mã ở đầu cuối ở mỗi văn phòng. IPSec là một giao thức phù hợp được phát triển dưới sự bảo trợ của IETF để thực hiện các dịch vụ bảo mật thông qua nền tảng chuyển mạch gói. Mạng Internet là một mạng lưới rộng Luận văn thạc sỹ khoa học Chất lượng dịch vụ VPN IPSec - 18 - lớn, do đó, một kết nối VPN IPSec được phát triển thông qua mạng Internet công cộng có thể có ý nghĩa trong việc giảm giá cả cho các tập đoàn so với các kết nối VPN riêng. Các dịch vụ IPSec cho phép các cơ chế nhận thực, tin cậy và toàn vẹn dữ liệu.
Với IPSec, thông tin được chuyển giữa các văn phòng ở xa có thể được mã hóa và được xác thực.