CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.1 Chất lượng cuộc sống Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa Chất lượng cuộc sống (CLCS) là nhận thức của mỗi cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh về hệ thống văn hóa và giá trị mà họ đang sống, có liên quan đến các mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của mỗi cá nhân. CLCS bị ảnh hưởng bởi tình trạng thể chất, tâm lý, mức độ độc lập, mối quan hệ xã hội và mối quan hệ của họ với những đặc trưng của môi trường theo một cách thức phức tạp” (WHO) [28]. CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa tổng thể, bao gồm các khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống [30].
Vì vậy, đo lường CLCS cần phải đo lường theo đặc trưng của từng đối tượng trên đa lĩnh vực, mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi đặc thù các yếu tố kinh tế-văn hóa-xã hội của địa phương cụ thể. Đối với con người nói chung cũng như người được nhận BTXH lĩnh vực sức khỏe thể chất và tinh thần là quan trọng của chất lượng tổng thể của cuộc sống. Tuy nhiên, các vấn đề môi trường, xã hội cũng là các khía cạnh khác tác động lên cuộc sống của bản thân họ. Đặc biệt sự tự đánh giá về tình trạng sức khỏe là yếu tố dự báo mạnh mẽ hơn về tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh hơn so với các biện pháp đánh giá khác [28, 30].
Do đó, cần có nghiên cứu về CLCS của người Mường được nhận BTXH để có cái nhìn tổng quan trong cuộc sống của người dân tộc ở vùng điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn được nhận BTXH.2 Bảo trợ xã hội: BTXH là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình [2, 21]. Nghiên cứu này sử dụng khái niệm BTXH theo Chính phủ Việt Nam ban hành theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH [17]. Ngoài ra, một số tổ chức trên thế giới cũng đã đưa ra khái niệm về BTXH, còn được gọi là trợ giúp xã hội: Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp [21]. Ngân hàng Thế giới (WB): 5 Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập [41].
Đặc điểm bảo trợ xã hội trên Thế giới và Việt Nam 1. Đặc điểm bảo trợ xã hội trên Thế giới Ở các nước đang phát triển, BTXH tác động tích cực đến tăng trưởng của quốc gia nghèo. BTXH sẽ đầu tư vào y tế và giáo dục, bảo vệ tài sản mà giúp mọi người kiếm được thu nhập ổn định, chấp nhận rủi ro, thúc đẩy sự tham gia vào thị trường lao động và xoa dịu nỗi đau mà họ gặp phải [38]. Bên cạnh đó, Các chương trình bảo trợ xã hội thường tập trung vào các nhóm dễ bị tổn thương và nghèo, phân biệt theo độ tuổi, tình trạng sức khỏe và người di cư cũng thuộc một trong những đối tượng được nhận BTXH [42].
Việc làm, nguồn thu nhập: Tỷ lệ thất nghiệp đã đạt 10 và 20%, một phần ba toàn bộ lực lượng lao động của thế giới 3 tỷ người không thể kiếm được một thu nhập đủ từ công việc để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống của họ, phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam giới [42]. Xã hội: Đàn ông và phụ nữ không còn tuân theo chu kỳ từ xưa đến nay: sinh - giáo dục - việc làm - hôn nhân - gia đình - nghỉ hưu - cái chết. Thay vào đó, những người đàn ông và phụ nữ đã chuẩn hóa lại cuộc sống cho mình. Nhiều người đi học trở lại ở tuổi 37, bắt đầu một gia đình ở tuổi 45, tái hôn ở tuổi 72.
Ngoài ra, toàn cầu hóa cũng làm tăng tính dễ tổn thương của người đàn ông và phụ nữ với những rủi ro xã hội như mất an ninh việc làm và thất nghiệp [29, 32]. Tình trạng nghèo: Trên thế giới một phần năm dân số thế giới, tương đương 1,2 tỷ người, được sống dưới 1 đô la/ một ngày. Đối với các nước kém phát triển tỷ lệ người dân sống trong nghèo đói tăng lên đến 60%, 70% và thậm chí là 80%. Các nước đang phát triển thì có 4,5 tỷ người không thể đáp ứng nhu cầu sống cơ bản nhất của họ [31].
Sự lão hóa: Tỷ lệ nam giới và phụ nữ trên 65 tuổi trên toàn thế giới dự kiến sẽ tăng từ mức hiện tại là 7% đến 16% vào năm 2050. Chẳng hạn, ở miền nam châu Âu, người ta ước tính rằng tỷ lệ người trên 65 tuổi sẽ đạt được một đáng kinh ngạc 40% vào năm 2050. Châu Phi, với tỷ lệ tăng trưởng dân số từ 5 đến 12% đối với những người trên 65 tuổi. Điều đó cho thấy, rất cần thiết phải giải quyết những thách thức của một dân số già [41].
Với những tình hình đó, cho thấy một số lượng rất lớn lên tới hàng triệu người gặp rủi ro rất và dễ bị tổn thương cần được nhận BTXH, nhưng thực tế là 80% dân số thế giới không được nhận bất kỳ hình thức bảo trợ xã hội [37, 41]. Đặc điểm bảo trợ xã hội tại Việt Nam 6 1.1 Đặc điểm chung đối tượng nhận BTXH tại Việt Nam Việt nam đang trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh, do đó người cần được BTXH rất lớn chiếm 20% dân số cả nước [10]. Đối tượng cần được nhận BTXH rất đa dạng, có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5% hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, 204 nghìn người nghiện ma tuý, khoảng 30 nghìn nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố [10]. Điều kiện để được hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên từng bước được cải tiến theo hướng mở rộng đối tượng được hưởng.
Cho nên, người được nhận BTXH tăng dần qua các năm, từ 416 nghìn đối tượng vào năm 2005 đã tăng lên trên 1,25 triệu đối tượng vào năm 2009 và 1,6 triệu năm 2011, tăng lên 2 triệu người vào năm 2013. Trong đó, nhóm người từ 85 tuổi trở lên chiếm 43,1%, nhóm người khuyết tật chiếm 24,5%, người già cô đơn 9,6%, người tâm thần 8,6%, người đơn thân nuôi con nhỏ 7,6%, trẻ em mồ côi 5% [5, 7]. Năm 2015, thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật, tính đến nay cả nước có trên 2,6 triệu người được nhận BTXH thường xuyên chiếm 2,7% dân số, trong đó trong đó có 37 nghìn trẻ em mồ côi, 88 nghìn người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo, 896 nghìn người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, NCT chiếm khoảng 50% đối tượng nhận BTXH thường xuyên [7]. Việt nam tiếp tục nâng cao công tác BTXH và tăng thêm đối tượng hưởng thụ, nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước.
Hướng tới sự phát triển an sinh xã hội đến năm 2020, phấn đấu hỗ trợ 3 triệu người được nhận BTXH thường xuyên chiếm 3% dân số cả nước [11]. Tình trạng kinh tế (nghề nghiệp, thu nhập): Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, nền kinh tế Nông nghiệp Việt Nam suy giảm, vốn dĩ chiếm 11% – 13% GDP nhưng ước tính tăng trưởng chỉ đạt 0,72% [20]. Trong khi đó, số đông người dân tộc làm nghề nông là chủ yếu, người dân tộc Mường cũng không ngoại lệ, đặc biệt là những đối tượng nhận BTXH. Do đó, công việc dẫn đến nguồn thu nhập bấp bênh, hơn nữa người nhận BTXH là đối tượng khó khăn về nhiều mặt trong cuộc sống.
Cho nên, đối tượng nhận BTXH luôn cần có sự trợ giúp về mặt kinh tế. Tình trạng nghèo: Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội đã mở rộng tới tất cả các đối tượng không chỉ các hộ nghèo. Tuy nhiên, mới chỉ có 20% người nghèo được nhận BTXH thường xuyên [5, 7]. Những chính sách về BTXH luôn bị chồng chéo với chính sách 7 đối với hộ nghèo, dẫn đến chưa tách bạch rõ việc xác định đối tượng và chi trả, dẫn đến sự thiếu minh bạch trên thực tế [1].
Giáo dục cơ bản: Những năm gần đây, chính sách hỗ trợ giáo dục ban hành khá sớm và đồng bộ, có quy định về phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học, miễn giảm học phí và các khoản đóng góp, ngân sách nhà nước dành nhiều ưu tiên đầu tư… Tuy nhiên, một số bộ phận đối tượng trung niên và người già là người dân tộc phần lớn vẫn không biết đọc và viết chữ [15]. Tiếp cận dịch vụ y tế, BHYT: ILO tiến hành đánh giá thông qua đối thoại cấp quốc gia cho thấy bảo hiểm y tế trong các nhóm dân tộc thiểu số không được tham gia một cách đầy đủ. Việt Nam, chính sách an sinh xã hội về cấp thẻ bảo hiểm y tế chưa bao phủ đầy đủ, chỉ có một số vùng dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế tới từng người dân [21], còn ở diện nhận BTXH thường xuyên đối với NCT, người khuyết tật và người nuôi con một mình đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế [17]. Tuy nhiên, những người có thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa hiểu biết được cách sử dụng thẻ trong việc khám chữa bệnh.
Bên cạnh đó, người dân tộc vẫn đang vẫn còn phong tục lạc hậu trong chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh, người dân vẫn dùng thuốc nam và nhờ thầy Mo cúng để chữa bệnh [15]. Đời sống người dân tộc đồng bào thiểu số nói chung và người Mường ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn ngày được cải thiện và nâng cao.