Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm liên quan đến căng thẳng tâm lý của nhân viên y tế 1.1 Định nghĩa về NVYT Theo Báo cáo Sức khỏe Thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006, nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia vào các hoạt động với mục đích nhằm nâng cao sức khỏe cho mọi người (17). NVYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên (KTV) và những người quản lý và nhân viên khác (nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý). Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế (17). Tại Việt Nam, theo Thông tư số 28/2014/TT-BYT ngày 14/8/2014 của Bộ Y tế Quy định nội dung hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Y tế, NVYT là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (CSYT) (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng).
Căn cứ theo Thông tư 28/2014/TT-BYT, nhân viên y tế khối lâm sàng là những người trực tiếp tham gia vào quá trình khám, chữa bệnh của người bệnh.2 Căng thẳng tâm lý và căng thẳng nghề nghiệp Hiện nay, căng thẳng tâm lý là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi. Theo Hans Selye “căng thẳng tâm lý là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể với những tình huống căng thẳng” (17). Theo nghiên cứu G. Butler, khái niệm chung về căng thẳng tâm lý bao gồm hai khía cạnh: - Tình huống căng thẳng tâm lý: chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra căng thẳng tâm lý: những tác nhân vật lý, hóa học, tâm lý, xã hội.
- Đáp ứng căng thẳng tâm lý: dùng để chỉ trạng thái phản ứng với căng thẳng tâm lý (phản ứng sinh lý và phản ứng tâm lý) (18). Căng thẳng tâm lý do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp định nghĩa là “những phản ứng có hại về thể chất và cảm xúc xảy ra khi có những yêu cầu của công việc không phù hợp với năng lực, nguồn lực hoặc nhu cầu của người làm việc” (4). Nghiên cứu sử dụng định nghĩa căng thẳng tâm tâm lý theo Hans Selye.3 Biểu hiện của căng thẳng tâm lý Dấu hiệu đầu tiên và dễ nhận biết nhất của căng thẳng tâm lý là mệt mỏi. Tiếp đó, người gặp phải vấn đề căng thẳng tâm lý cảm thấy suy kiệt về tinh thần và thể lực.
Họ mất khả năng tự đánh giá mình và thường xuyên cáu giận. Theo Institute of mental health, biểu hiệu của căng thẳng tâm lý được phân chia làm 4 thành tố về: nhận thức, cảm xúc, sinh lý và hành vi (19). Trong đó, biểu hiện về cảm xúc và nhận thức là dấu hiện dễ nhận biết căng thẳng tâm lý. Biểu hiện cảm xúc cụ thể: ủ rũ, buồn rầu, dễ xúc động, dễ nổi nóng, tổn thương, bức bối, không xoa dịu được căng thẳng,….
Đối với các biểu hiện về nhận thức gồm: có nhiều suy nghĩ lo âu, cảm thấy mất lòng tin hay nghi ngờ, không thể tập trung,…. Nghiên cứu tại BVĐK Phương Đông mô tả biểu hiện căng thẳng tâm lý về cảm xúc thông qua 7 tiểu mục thuộc phần căng thẳng trong thang đo DASS-21.4 Ảnh hưởng của căng thẳng tâm lý Ảnh hưởng tới cá nhân - Ảnh hưởng của căng thẳng tâm lý đối với sức khỏe: Căng thẳng tâm lý có thể tác động đến hầu hết các cơ quan, bộ phận trên cơ thể khi mức độ căng thẳng cao và xảy ra thường xuyên. Căng thẳng gây ảnh hưởng đến: Hệ thần kinh dễ bị kích thích, nhức đầu và mất ngủ dẫn đến các bệnh mạn tính (huyết áp, tim mạch, hô hấp, cơ xương khớp, gan, thận…) hoặc bệnh tâm thần trở nên trầm trọng hơn; Sinh lực hao mòn khiến cơ thể mệt mỏi; Khả năng miễn dịch của cơ thể suy giảm làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm nhiễm; Thay đổi hệ thống sinh sản ở cả nam và nữ (rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, giảm sản xuất testosterone và tinh trùng, …) (20). Ngoài ra theo Bowe, căng thẳng tâm lý ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, làm chậm quá trình tiêu hóa.
Một nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ căng thẳng cao có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng tự nhiên của các vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, dẫn đến khó tiêu, rối loạn chức năng đại tràng, viêm loét dạ dày – tá tràng,… Điều này làm cho niêm mạc ruột tăng tính thấm, cơ thể dễ đối mặt với tình trạng viêm, da dễ bị nổi mụn, sạm màu, lão hóa hoặc gặp phải bệnh vẩy nến, chàm (21). Hậu quả căng thẳng tâm lý gây nên gánh nặng về kinh tế thông qua chi phí chăm sóc sức khỏe, thiệt hại cho người sử dụng lao động nói chung và CSYT nói riêng do nhân viên nghỉ việc, giảm năng suất lao động…(3). 6 - Ảnh hưởng của căng thẳng tâm lý đối với cảm xúc: Căng thẳng tâm lý dẫn đến không kiềm chế được cảm xúc, cư xử đối với người thân, đồng nghiệp và bạn bè dẫn đến tranh cãi, gây gổ và bị xa lánh (2). - Ảnh hưởng của căng thẳng tâm lý đối với hành vi: Căng thẳng tâm lý dẫn đến thay đổi về thói quen (giấc ngủ, ăn uống,.), làm giảm khả năng tập trung và góp phần gia tăng sử dụng thuốc lá, rượu và các chất kích thích khác.
Ngoài ra căng thẳng dẫn đến các hành vi tiêu cực làm ảnh hưởng đến người xung quanh (đánh nhau, gây sự, tranh cãi (2). Ảnh hưởng tới gia đình: Ảnh hưởng tiêu cực của căng thẳng tâm lý đối với sức khỏe, gia đình và công việc đều như nhau vì căng thẳng ở mặt này đương nhiên sẽ tác động đến những mặt khác. Căng thẳng cao và kéo dài sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc, cách cư xử. Theo thống kê căng thẳng của Hoa Kỳ 54% đối tượng cho biết căng thẳng đã khiến họ đánh nhau với những người thân thiết (3).
Bên cạnh đó, căng thẳng cũng là một trong số nguyên nhân gây gia tăng tỷ lệ ly hôn và tự sát trong cộng đồng (3). Ảnh hưởng tới công việc tại cơ quan/tổ chức: Theo số liệu của Viện nghiên cứu căng thẳng tâm lý Hoa Kỳ có 48% số người căng thẳng cho rằng căng thẳng tâm lý có tác động tiêu cực đến nghề nghiệp của họ, 31% gặp khó khăn trong việc quản lý công việc (3). Ngoài ra, chi phí hàng năm cho người sử dụng lao động trong chăm sóc sức khỏe liên quan đến căng thẳng hoặc bỏ việc là 300. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu, có sự tương quan nghịch giữa căng thẳng tâm lý và chỉ số làm việc -WAI ở NVYT, nghĩa là chỉ số khả năng làm việc giảm khi mà mức độ căng thẳng nghề nghiệp tăng; Tình trạng căng thẳng nếu kéo dài sẽ dẫn đến suy giảm chức năng các cơ quan, tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như làm giảm khả năng lao động, tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm (22-25).
Qua đó thấy được tình trạng căng thẳng kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến công việc cũng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cơ quan/cơ sở làm việc (26). Đặc biệt trong môi trường y tế, căng thẳng tâm lý có thể dẫn đến sai sót y khoa của NVYT khối lâm sàng, giảm chất lượng chăm sóc, kết quả điều trị cho BN và ảnh hưởng tới doanh thu CSYT.2 Thực trạng căng thẳng tâm lý của NVYT 1.1 Thực trạng căng thẳng tâm lý của NVYT trên Thế giới 7 Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về SKTT nói chung và căng thẳng tâm lý trên các đối tượng và tình huống khác nhau như: học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng, công nhân, phụ nữ, đàn ông …(27-29). Với những đặc thù về tính chất công việc, NVYT làm việc tại BV, đặc biệt NVYT khối lâm sàng là người trực tiếp chăm sóc và tiếp xúc với BN - người mang nguồn nguy cơ lây nhiễm bệnh cao và luôn có trạng thái tâm lý không tốt vì bệnh tật – là đối tượng có nguy cơ căng thẳng tâm lý do nghề nghiệp mang lại. Chính vì điều này, các nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng, yếu tố liên quan đến SKTT của NVYT tại các BV/trung tâm chăm sóc sức khỏe trên thế giới ngày càng phổ biến (30-32).
Nghiên cứu của Ito, Shinya và cộng sự (2014) về thực trạng căng thẳng tâm lý trên 9137 NVYT tại 20 bệnh viện tại Nhật Bản với bộ công cụ BJSQ cho thấy những rủi ro liên quan đến sức khỏe do căng thẳng nghề nghiệp ở NVYT cao hơn 10% so tỷ lệ trung bình trên cả nước (32). Đồng thời, kết quả đưa ra các yếu tố liên quan dẫn đến căng thẳng nghề nghiệp được xác định do áp lực quá tải công việc, làm thêm giờ và thiếu hỗ trợ tại CSYT (32). Một nghiên cứu của Shamsudin SB (2018) sử dụng bộ công cụ DASS-21 để đánh giá mức độ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng của các NVYT tại quận Kota Kinabalu - Ấn Độ cho cũng cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng được ghi nhận lần lượt là 16,2%, 26,3% và 11,4% (33). Trong đó, nghề nghiệp được xác định là yếu tố quan trọng nhất gây ra trầm cảm, lo lắng và căng thẳng ở NVYT, cụ thể: điểm số căng thẳng có liên quan đến nghề nghiệp (F = 2,773; p = 0,031) và vị trí nơi làm việc (F = 2,258; p = 0,032) (33).
Trong bối cảnh đại dịch, nhiều nghiên cứu cho thấy dịch COVID-19 đã gây ra những ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe tâm thần (trầm cảm, lo âu, căng thẳng,…) đối với cộng đồng nói chung và NVYT nói riêng (34, 35).Theo kết quả nghiên cứu tổng quan của Rajkumar RP (2020) trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau về sức khỏe tâm thần do ảnh hưởng COVID-19 cho thấy triệu chứng lo âu và trầm cảm (16-28%), căng thẳng (8%) là những triệu chứng tâm lý phổ biến trong đại dịch (36). Do đặc thù công việc, dịch COVID-19 càng làm tăng gánh nặng công việc lên cả thể chất và tinh thần của NVYT- đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình xử lý và phòng, chống đại dịch. 8 Một nghiên cứu tổng quan khác của Jens Bohlken (2020) dựa trên kết quả 14 nghiên cứu về thực trạng căng thẳng của NVYT làm việc tại các khoa/phòng khác nhau tại CSYT trong đại dịch COVID-19 từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2020 cho thấy tình trạng căng thẳng được báo cáo tại nhiều nghiên cứu, bên cạnh đó các triệu chứng trầm cảm và lo lắng cũng được ghi nhận (35).