CHƯƠNG 1: BỘ ĐIỀU KHIỂN PID VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHỈNH ĐỊNH THAM SỐ 1.1 Vai trò của bộ điều khiển Trong lý thuyết điều khiển tự động chia ra làm hai dạng điều khiển là điều khiển vòng hở và điều khiển phản hồi. Điều khiển phản hồi cho chất lượng đầu ra tốt hơn so với điều khiển vòng hở. Cấu trúc hệ thống điều khiển phản hồi như sau: (t) e(t) Bộ điều u(t) Đối tượng y(t) ± khiển điều khiển Hình 1.1: Cấu trúc hệ điều khiển phản hồi Như lý thuyết điều khiển tự động đã định nghĩa, một bộ điều khiển là một thiết bị giám sát và tác động vào điều kiện làm việc của một hệ động học cho trước. Các điều kiện làm việc đặc trưng cho các biến đầu ra của hệ thống mà có thể tác động bởi việc điều chỉnh các biến đầu vào đã biết.
Như vậy trong hệ thống điều khiển phản hồi bộ điều khiển có chức năng tổng hợp các tín hiệu vào bao gồm: tín hiệu đặt, tín hiệu phản hồi sau đó gia công tín hiệu theo thuật toán đã định trước để cho ra tín hiệu điều khiển u tác động lên đối tượng điều khiển. Bộ điều khiển được chia làm các loại: Bộ điều khiển bằng khí nén Bộ điều khiển bán dẫn Bộ điều khiển on-off Bộ điều khiển theo thuật toán PID 1.2 Bộ điều khiển PID Tên gọi PID là chữ viết tắt của ba thành phần cơ bản có trong bộ điều khiển gồm: Khâu khuếch đại (P), khâu tích phân (I), khâu vi phân (D). Giải thuật tính toán bộ điều khiển PID gồm 3 thông số riêng biệt, do đó đôi khi nó còn được 16 c gọi là điều khiển ba khâu: các giá trị tỉ lệ, tích phân và đạo hàm, viết tắt là P, I và D. Giá trị tỉ lệ xác định tác động của sai số hiện tại; giá trị tích phân xác định tác động của sai số quá khứ; và giá trị vi phân xác định tác động của tốc độ biến đổi sai số.
Tổng chập của ba tác động này dùng để điều chỉnh quá trình thông qua một phần tử điều khiển. Nhờ vậy, những giá trị này có thể làm sáng tỏ về quan hệ thời gian: P phụ thuộc vào sai số hiện tại; I phụ thuộc vào tích lũy sai số quá khứ; và D dự đoán các sai số tương lai, dựa vào tốc độ thay đổi hiện tại. Bằng cách điều chỉnh ba hằng số trong giải thuật của bộ điều khiển PID, bộ điều khiển có thể dùng trong những thiết kế có yêu cầu đặc biệt. Đáp ứng của bộ điều khiển có thể được mô tả dưới dạng độ nhạy sai số của bộ điều khiển, giá trị mà bộ điều khiển vượt quá điểm đặt và giá trị dao động của hệ thống.
up e 1 uI u kp TI s uD T Ds Hình 1.2: Cấu trúc bộ điều khiển PID Bộ điều khiển PID được sử dụng khá rộng rãi để điều khiển đối tượng SISO theo nguyên lý hồi tiếp. Lý do bộ PID được sử dụng rộng rãi là tính đơn giản của nó về cả cấu trúc lẫn nguyên lý làm việc. Bộ PID có nhiệm vụ đưa sai lệch e(t) của hệ thống về 0 sao cho quá trình quá độ thỏa mãn các yêu cầu cơ bản về chất lượng: Nếu sai lệch e(t) càng lớn thì thông qua thành phần up(t), tín hiệu điều chỉnh u(t) càng lớn (vai trò của khâu khuếch đại kp). Nếu sai lệch e(t) chưa bằng 0 thì thông qua thành phần uI(t), sẽ triệt tiêu sai lệch tĩnh (vai trò của khâu tích phân TI).
Nếu sai lệch e(t) biến thiên thì thông qua thành phần uD(t) phản ứng thích hợp của u(t) sẽ càng nhanh (vai trò của vi phân TD). Bộ điều khiển PID được mô tả bằng mô hình vào-ra: 17 c 1 t de (t ) u (t ) k p e (t ) e ()d T D TI 0 dt Trong đó e(t) là tín hiệu vào, u(t) là tín hiệu ra, kp là hệ số khuếch đại, TI là hằng số tích phân, TD là hằng số vi phân Từ mô hình vào-ra trên ta có hàm truyền của bộ điều khiển PID: 1 R (s ) k p 1 T D s TI s Chất lượng của hệ thống phụ thuộc vào các tham số kp, TI, TD. Muốn hệ thống có chất lượng như mong muốn thì phải phân tích đối tượng rồi trên cơ sở đó chọn các tham số cho phù hợp. Hiện có khá nhiều các phương pháp xác định các tham số kp, TI, TD cho bộ điều khiển PID, tiêu biểu là: Phương pháp Ziegler-Nichols Phương pháp Chien-Hrones-Reswick Phương pháp tổng T của Kuhn Phương pháp tối ưu độ lớn và tối ưu đối xứng 1.1 Phương pháp Ziegler-Nichols Đây là phương pháp thực nghiệm để xác định tham số bộ điều khiển PID.
Phương pháp thứ nhất sử dụng mô hình xấp xỉ quán tính bậc nhất có trễ của đối tượng điều khiển: ke Ls S (s ) 1 T s Thì phương pháp thứ 2 không cần đến mô hình toán học của đối tượng nhưng chỉ áp dụng được cho một lớp các đối tượng nhất định. Phương pháp Ziegler-Nichols 1 Phương pháp này có nhiệm vụ xác định các tham số kP, TI, TD cho các bộ điều khiển PID trên cở sở xấp xỉ hàm truyền S(s) của đối tượng về dạng khâu quán tính bậc nhất để hệ kín nhanh chóng trở về chế độ xác lập và độ quá điều chỉnh ∆h không vượt quá một giới hạn cho phép, khoảng 40% so với h lim h (t ). t 18 c Ba tham số L (hằng số thời gian trễ), k (hệ số khuếch đại) và T (hằng số thời gian quán tính) của mô hình xấp xỉ có thể được xác định gần đúng từ đồ thị hàm quá độ h(t) của đối tượng. Nếu đối tượng có hàm quá độ dạng như hình 1.3a thì từ hàm quá độ h(t) ta có: L là khoảng thời gian đầu ra h(t) chưa có phản ứng ngay với kích thích 1(t) tại đầu vào.
k là giá tri giới hạn h lim h (t ). t Gọi A là điếm kết thúc khoảng thời gian trễ, tức là điếm trên trục hoành có hoành độ bằng L. Khi đó T là khoảng thời gian cần thiết sau L đế tiếp tuyến của h(t) tại A đạt được giá trị k.3: Xác định tham số cho mô hình xấp xỉ đối tượng Trường hợp hàm quá độ h(t) không có dạng lý tưởng như ở hình 1.3a, song có dạng gần giống là hình chữ S của khâu quán tính bậc 2 hoặc bậc n như hình 1.3b mô tả, thì ba tham số k, L, T của mô hình được xác định xấp xỉ như sau: k là giá tri giới hạn h lim h (t ) t Kẻ đường tiếp tuyến của h(t) tại điếm uốn của nó. Khi đó L sẽ là hoành độ giao điểm của tiếp tuyến với trục hoành và T là khoảng thời gian cần thiết để đường tiếp tuyến đi được từ giá trị 0 tới được giá tri k.
Như vậy ta có thế thấy là đế áp dụng được phương pháp xấp xỉ mô hình bậc nhất có trễ, đối tượng đã phải ổn đinh và ít nhất hàm quá độ của nó phải có 19 c dạng hình chữ S. Sau khi đã có các tham số cho mô hình xấp xỉ của đối tượng, Ziegler- Nichols đã đề nghị sử dụng các tham số kp , TI , TD cho bộ điều khiến như sau: Bộ điều khiển Kp TI TD T R (s ) k p kL 1 0.2T L R (s ) 1 k p T D s 2L TI s kL 2 Phương pháp Ziegler-Nichols 2 Phương pháp thực nghiệm thứ hai này có đặc điếm là không sử dụng mô hình toán học của đối tượng, ngay cả mô hình xấp xỉ gần đúng. Nội dung của phương pháp thứ hai như sau: Thay bộ điều khiến PID trong hệ kín bằng khâu khuếch đại. Sau đó tăng hệ số khuếch đại tới giá tri tới hạn kth đế hệ kín ở chế độ biên giới ổn đinh, tức là h(t) có dạng dao động điều hòa 1.
Xác định chu kỳ Tth của dao động. Xác định tham số cho bộ điều khiển P, PI hay PID từ kth và Tth như sau: Bộ điều khiển Kp TI TD 1 R (s ) k p kth 2 1 R (s ) 1 k p 0.12T th TI s h(t) e u Đối tượng y kth - điều khiển Tth t 20 c Hình 1.4: Xác định hằng số khuếch đại tới hạn 1.2 Phương pháp Chien – Hrones – Reswick Đây là phương pháp gần giống với phương pháp thứ nhất của Ziegler- Nichols, song nó không sử dụng mô hình tham số gần đúng dạng quán tính bậc nhất có trễ cho đối tượng mà thay vào đó là dạng trực tiếp hàm quá độ h(t) của nó.5: Hàm quá độ đối tượng thích hợp cho phương pháp Chien-Hrones-Reswick Phương pháp Chien-Hrones-Reswick cũng cần giả thiết đối tượng ổn định, hàm quá độ h(t) có dạng hình chữ S (hình 1.5), tức là luôn có đạo hàm không âm: dh (t ) g (t ) 0 dt Tuy nhiên phương pháp này thích ứng với những đối tượng bậc cao như quán tính bậc n k S (s ) (1 sT )n 21 c Và có hàm quá độ h(t) thỏa mãn: b 3 (1.1) a trong đó a là hoành độ giao điểm tiếp tuyến của h(t) tại điểm uốn U với trục thời gian (hình 1.