Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của đề tài Nội dung chương này sẽ trình bày: (i) cơ sở hình thành luận văn; (ii) câu hỏi nghiên cứu; (iii) mục tiêu nghiên cứu; (iv) đối tượng và phạm vi nghiên nghiên cứu; (v) phương pháp nghiên cứu; (vi) ý nghĩa của đề tài; (vii) kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 2 trình bày các vấn đề sau: (i) định nghĩa về tiết kiệm; (ii) các học thuyết về tiết kiệm; (iii) các tác động đến động cơ tiết kiệm; (iv) các hình thức tiết kiệm; (v) vai trò của tiết kiệm đối với tăng trưởng kinh tế; (vi) nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài; (vii) nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam; (viii) khung khái niệm của nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Phần chương 3 sẽ trình bày: (i) mô hình nghiên cứu; (ii) dữ liệu nghiên cứu; (iii) xử lý số liệu. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Phần chương 4 sẽ trình bày: (i) thực trạng tỉ lệ tiết kiệm hộ gia đình Việt Nam; (ii) Phân tích kết quả hồi quy.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách Chương này có ba phần chính: (i) trình bày kết luận nghiên cứu; (ii) trình bày các hàm ý chính sách; và (iii) hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Commented [nn2]: Bố cục lại chương 2 thành 4 mục thôi. Cụ thể như sau: 2. Các khái niệm liên quan đến tiết kiệm (gom nội dung các mục Chương này sẽ cung cấp các khái niệm, lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan 2.5 của bản thảo vào đây).
Cơ sở lý thuyết về tiết kiệm (gom nội dung các mục 2. của bản thảo vào đây). Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tiết kiệm (gom nội dung các mục 2.7 của bản thảo vào đây). Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm của các hộ gia đình 2.1 Các khái niệm liên quan đến tiết kiệm: (tương ứng với nội dung mục 2.8 của bản thảo).1 Định nghĩa tiết kiệm: Từ điển kinh doanh định nghĩa tiết kiệm là một phần thu nhập khả dụng không dành cho tiêu dùng hàng hóa nhưng tích lũy hoặc đầu tư trực tiếp vào các thiết bị vốn.
Tiết kiệm tạo thành cơ sở cho sự hình thành vốn, đầu tư và tăng trưởng của một quốc gia (Nga, 2007). Tiết kiệm của các hộ gia đình được định nghĩa là một phần của thu nhập hiện tại, sau khi nộp các loại thuế trực tiếp, không được tiêu thụ hoặc chuyển nhượng cho việc tiêu dùng trong tương lai. Tiết kiệm bao gồm giải ngân hiện tại dưới hình thức giảm nợ trong gia đình, như trả nợ. Ngược lại, bất kỳ phần nào của chi tiêu hiện tại của các hộ gia đình không được tài trợ bằng thu nhập hiện tại, mà bằng cách sử dụng tín dụng thể hiện sự gia tăng nợ công tài chính của cá nhân và được coi là tiết kiệm tiêu cực.
Tiết kiệm cũng được xác định theo dòng chảy trong tài khoản vãng lai và loại trừ bất kỳ khoản lợi tức và lỗ vốn nào (Schultz, 2005, Nga, 2007, Cronje, 2009). Tiết kiệm của các hộ gia đình nói chung được định nghĩa là sự khác biệt giữa thu nhập dùng khả dụng của hộ gia đình và chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình (Shikha và cộng sự, 2009). Có hai loại tiết kiệm: tiết kiệm tài chính và tiết kiệm vật chất. Dựa trên VHLSS 2008, khái niệm "sử dụng của các tổ chức tài chính của để tiết kiệm" bao gồm các khoản tiết kiệm trong ngân hàng nhà nước, tham gia các ngân hàng cổ phần, ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng, trái phiếu chính phủ, hệ thống tín dụng chính thức.
Tiết kiệm vật chất hoặc tiết kiệm phi tài chính - bao gồm tiết kiệm bằng tiền mặt, vàng, đô la, đất đai, máy móc thiết bị, nhà ở. Tiết kiệm phi tài chính là tiết kiệm nhàn rỗi không có nguồn cho đầu tư. Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, việc phân bổ tiền tiết kiệm vào đầu tư là cực kỳ quan trọng để giải quyết các mâu thuẫn mà nền kinh tế 6 cần đầu tư vốn nhưng hộ gia đình vẫn giữ tiền tiết kiệm trong các tài sản nhàn rỗi và phi tài chính. Theo thống kê của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), lượng vàng dự trữ của Việt Nam đã tăng liên tục qua các năm và đạt đỉnh điểm vào cuối năm 2009 là 1.000 tấn với tổng giá trị lên đến $ 45 tỷ, bằng 50 % GD của Việt Nam cùng một lúc.
Bên cạnh nỗi lo lạm phát, người ta cất vàng, đô la vì không có sản phẩm tài chính và chi phí giao dịch của việc sử dụng các sản phẩm này là rất cao. Do đó, phát triển tài chính là một trong những yếu tố quan trọng để chuyển tiết kiệm thành đầu tư.2 Các hình thức tiết kiệm: Hình thức tiết kiệm gồm 2 dạng chính thức và không chính thức: Tiền tiết kiệm ở dạng chính thức: là những khoản tiền được đầu tư vào các tổ chức tài chính chính thức như ngân hàng thương mại. Tiết kiệm phi chính thức có nhiều dạng như bất động sản, tiền mặt, ngoại tệ, vàng, kim hoàn, chơi hụi, tích trữ lúa và gạo. Có bốn nguyên do chính vì sao những “người tiết kiệm nhỏ” ở Việt Nam thường giữ tiền theo các hình thức này: Thói quen tằn tiện truyền thống của các hộ gia đình nông thôn Thiếu tiếp cận với những tổ chức tài chính chính thức Lạm phát kéo dài Tỉ suất lợi nhuận tiền gửi ngân hàng thấp 2.3 Vai trò của tiết kiệm đối với tăng trưởng kinh tế: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Khai thác lợi thế về vốn. Kéo dài chu kỳ của công nghệ và sản phẩm 2.2 Cơ sở lý thuyết về tiết kiệm: Các thuyết về tiết kiệm của hộ gia đình chia ra làm 2 trường phái: một là lý thuyết cổ điển và hai là lý thuyết Keynes và những lý thuyết hiện đại khác. Sự khác biệt chính giữa lý thuyết cổ điển và các học thuyết khác là trong lý thuyết cổ điển, tiết kiệm được quyết định chính bởi lãi suất. Ngược lại, Keynes và những nhà kinh tế hiện đại khác nhấn mạnh vai trò của thu nhập hộ gia đình là yếu tố chính quyết định tiết kiệm của hộ 7 gia đình (Wai, 1972).
Những học thuyết về tiết kiệm hộ gia đình sẽ được tác giả tóm tắt một cách hệ thống bên dưới: 2.1 Học thuyết cổ điển: Trường phái lý thuyết cổ điển tiêu biểu là Alfried Marshall, Knut Wicksell and Irving Fisher. Theo quan điểm của trường phái này, lãi suất là yếu tố quan trọng nhất trong tiết kiệm của hộ gia đình. Theo quan điểm này, “lãi suất là phần thưởng của sự chờ đợi”, một sự tăng lên trong lãi suất sẽ dẫn đến phần thưởng cho tiết kiệm lớn hơn và do đó tiết kiệm của hộ gia đình sẽ lớn hơn (Wai, 1972). Thêm vào đó, sự gia tăng này cũng có nghĩa là sự gia tăng đầu tư (Wai, 1972; Carol Newman, 1996).2 Học thuyết Keynesian : Theo quan điểm của Keynes, lượng tiết kiệm phụ thuộc vào lượng đầu tư trong khi đó đầu tư lại bị ảnh hưởng bởi lãi suất.
Việc tăng lãi suất sẽ giảm khối lượng đầu tư, do đó sẽ làm giảm tiết kiệm (Waheed, 1996). Dựa trên lập luận này, Keynes phát triển mô hình tiết kiệm của ông được gọi là "Thuyết thu nhập tuyệt đối". Dưới thuyết thu nhập tuyệt đối, mô hình tiết kiệm đơn giản là một công thức của thu nhập hiện tại.1) Trong đó a là hệ số chặn (a âm), b là xu hướng tiết kiệm luôn lớn hơn 0 nhỏ hơn 1, Yt là thu nhập khả dụng hiện tại bằng thu nhập trừ thuế. Theo ông thì tăng thu nhập sẽ làm tăng việc tiêu dùng của hộ gia đình.
Tuy nhiên lượng tăng trong tiêu dùng hộ gia đình thì chậm hơn lượng tăng trong tiết kiệm hộ gia đình. Do đó, sự gia tăng thu nhập từng hộ gia đình sẽ dẫn đến sự tăng tiết kiệm của hộ gia đình (Waheed, 1996). Keynes cũng chỉ ra tám động cơ để hộ gia đình tiết kiệm, đó là: biện pháp phòng ngừa, tầm nhìn xa, sự tính toán, sự cải thiện, sự độc lập, khởi nghiệp, niềm tự hào và lòng tham (Wai, 1972; Tín, 2000). Trái ngược với quan niệm cổ điển, Keynes cho rằng lãi suất có tác động tiêu cực đối với tiết kiệm.
Việc tăng lãi suất dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư, do đó sẽ dẫn đến sự sụt giảm lớn trong thu nhập và do đó làm giảm tiết kiệm. Hiện tượng này được gọi là "nghịch lý của tiết kiệm". Từ quan điểm này, mô hình Keynes bị phản biện bởi các lý 8 thuyết về "tự do hóa tài chính" của McKinon và Shaw. Theo Shaw (1973), các nước đang phát triển phải đối mặt với các vấn đề thiếu vốn đầu tư chứ không phải là vấn đề thiếu các dự án đầu tư sản xuất.
Do đó, việc tăng lãi suất không dẫn đến việc giảm đầu tư và lượng tiền tiết kiệm. Bên cạnh đó, mô hình Keynes bị phản bác bởi các nghiên cứu thực nghiệm của những người Kunezts năm 1946, Brady và Friedman năm 1947 (Modigliani, 1998). Theo nghiên cứu của họ, hành vi tiết kiệm của hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các yếu tố dài hạn như sự mong đợi của thu nhập suốt đời chứ không phải là yếu tố ngắn hạn như thu nhập hiện tại. Từ những bất cập nêu trên, ba mô hình mới về việc tiết kiệm của các hộ gia đình đã được phát triển.
Chúng là "Thuyết thu nhập tương đối" được phát triển bởi Duesenberry, "Thuyết thu nhập cố định" được phát triển bởi Milton Friedman và "Thuyết Vòng đời " được phát triển bởi Duesenberry và Modigliani. Cả ba mô hình này sẽ được trình bay trong phần tiếp theo.3 Thuyết thu nhập tương đối: Theo thuyết thu nhập tương đối, sự tiết kiệm của hộ gia đình phụ thuộc “không chỉ trên thu nhập hiện tại mà còn về các khoản thu nhập trước và thói quen tiêu dùng trong quá khứ" (Gillis và các cộng sự, 1996: 313). Đó là, khi thu nhập hộ gia đình tăng trong dài hạn, tiêu dùng gia đình cũng tăng lên. Tuy nhiên, phải mất thời gian để thay đổi thói quen tiêu dùng hộ gia đình.
Vì vậy, trong ngắn hạn, bất kỳ sự tăng thu nhập nào của hộ gia đình cũng không dẫn đến sự thay đổi trong chi tiêu hộ gia đình ngay lập tức. Điều này dẫn đến sự gia tăng trong lượng tiết kiệm ở các hộ gia đình (Wahees, 1996 ; Gillis và các cộng sự, 1996 ) 2.