Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về những vấn đề cơ bản của đề tài nghiên cứu, cụ thể nêu được rõ lý do lựa chọn đề tài cũng như tính cấp thiết của đề tài. Từ đó đề ra được mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phần này cũng trình bày phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng cho đó là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những đóng góp của đề tài đối với thực tiễn và khái quát được cấu trúc của đề tài.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tín dụng ngân hàng Hiện nay, phạm trù “tín dụng” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo Quốc Hội (2024), Theo Khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nguyễn Minh Kiều (2009) thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phi phí nhất định”.
Theo Nguyễn Thị Thu Đông (2012), “Tín dụng NH là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau giữa các NHTM nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của chính mình và đảm bảo an toàn theo quy định pháp luật trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, trong đó NHTM này chuyển nhượng cho NHTM khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả”. Cho vay Cho vay là một hoạt động kinh doanh quan trọng của các NHTM và cho vay cá nhân cũng là một bộ phận trong hoạt động cho vay. Khoản vay đơn giản là một thỏa thuận mà trong đó người cho vay cung cấp tiền hoặc tài sản cho người đi vay, đổi lại người đi vay đồng ý hoàn trả số tiền gốc cùng với số tiền nhất định bổ sung được gọi là tiền lại trong khoảng thời gian đã thỏa thuận. Trong tài chính, hoạt động cho vay là một trong những hoạt động cơ bản của các tổ chức tài chính như NH, tổ chức tín dụng,… Nguồn thu nhập chính của các tổ chức là cho vay tiền.
(Thapa, 2018) Theo Quốc hội (2024), Khoản 7 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một 9 thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay”. Theo Trần Khánh Bảo (2015), Cho vay cá nhân là khoản vay nhằm tài trợ cho các nhu cầu vay vốn của cá nhân, hộ gia đình. Đó là các nhu cầu về mua sắm các phương tiện đi lại: vay mua ô tô, xe máy…; nhu cầu về cư trú: vay mua nhà hoặc sửa chữa nhà cửa, …; các như cầu về y tế, giáo dục hay nhu cầu về chi tiêu hàng ngày, … Như vậy, dựa trên khái niệm như trên và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì: Cho vay KHCN là một hình thức cấp tín dụng bằng nội tệ và ngoại tệ do NH phát hành và là một hoạt động kinh doanh của NH trong đó NH cho khách hàng (bao gồm các cá nhân và hộ gia đình) đáp ứng điều kiện cho vay, vay số tiền mà họ cần cho các mục đích tiêu dùng, mua sắm hằng ngày, đầu tư hoặc sản xuất kinh doanh, … với một mức lãi suất nhất định và trả lại trong một khoảng thời gian nhất định. Quyết định vay vốn Theo Philip Kotler (1997), tác giả định nghĩa việc ra quyết định trong ngữ cảnh tiếp thị được định nghĩa là quá trình suy nghĩ, lựa chọn và thực hiện hành động nhằm thỏa mãn một nhu cầu hoặc mong muốn nhất định.
Kotler nhấn mạnh việc ra quyết định không chỉ là sự lựa chọn một sản phẩm, dịch vụ mà còn bao gồm cả quá trình tìm kiếm, so sánh và đánh giá từng phương án trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Về QĐVV, tác giả Hồ Thế Trung (2020) cho rằng, QĐVV được hiểu là “quyết định vay của khách hàng cụ thể đối với một ngân hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế”. Theo Quan Minh Nhật và cộng sự (2015), QĐVV là quá trình từ khi người đi vay hình thành ý thức về nhu cầu tìm kiếm thông tin để đưa ra quyết định vay, hoặc lặp lại quyết định đó nhiều lần, trong đó quyết định vay được xem là giai đoạn cuối cùng của quá trình ra QĐVV. Như vậy, hiểu một cách tổng quát, QĐVV của KHCN là quá trình mà một cá nhân tìm kiếm, lựa chọn, đánh giá từng tùy chọn ở nhiều góc độ và đưa ra quyết định về việc vay vốn từ một tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, …) nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính của cá nhân đó.
Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân Cho vay KHCN có một số đặc điểm như sau: Đối tượng vay vốn là các cá nhân, hộ kinh doanh gia đình Thời gian vay vốn, KHCN có thể vay các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Các khoản vay có thời hạn ngắn hạn thường dành cho các mục đích về bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh. Còn các khoản vay trung và dài hạn là các khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Tính chất tiêu dùng và quy mô của khoản vay, KHCN vay vốn thường có quy mô khoản vay nhỏ nhưng có số lượng rất lớn, nhiều hơn so với các khách hàng là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Trên thực tế, đối tượng là KHCN rất đa dạng đại diện cho hầu hết các thành phần trong xã hội và do mức sống ngày càng tăng nên nhu cầu vay vốn cũng tăng phong phú qua các năm. Đó là lý do số lượng các KHCN vay vốn luôn rất đông. Mục đích sử dụng vốn vay, Các KHCN thường có nhu cầu vay vốn phục vụ cho mục đích chi tiêu trực tiếp cho tiêu dùng thường ngày, đầu tư vào đất đai, nhà cửa, đáp ứng các nhu cầu học tập của con cái hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, loại tín dụng này được sử dụng cho nhu cầu tiêu dùng hơn là lợi nhuận kinh doanh.
Mặc dù mục đích sử dụng vốn vay đa dạng nhưng chịu tác động của môi trường kinh tế văn hóa, xã hội và không thường xuyên nên ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn cũng khác nhau (Nguyễn Thị Thanh Tú, 2022) Chi phí và lãi suất cho vay đối với KHCN cao, như đã nêu ở trên, quy mô các khoản vay tuy nhỏ nhưng số lượng rất nhiều nên đây là danh mục chiếm chi phí cao nhất của NH, vì trong quy trình cấp vốn cần xử lý nhiều bước và liên tục, dẫn đến phát sinh nhiều chi phí hơn cho NH. Việc NH phải mất nhiều chi phí đối với các khoản cho vay KHCN cũng kéo theo việc lãi suất cho vay đối với KHCN thường cao và tăng theo chi phí. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân 2. Căn cứ vào mục đích vay Theo Trần Khánh Bảo (2015), dựa vào mục đích vay vốn, cho vay KHCN được phân thành các loại sau: Cho vay tiêu dùng: Đây là hình thức NH cấp vốn cho cá nhân, hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu về chi tiêu, sinh hoạt hằng ngày của của họ, cụ thể như các khoản vay mua phương tiện đi lại, xây nhà hoặc sửa chữa nhà mới, mua các thiết bị gia đình, các khoản chi tiêu khám chữa bệnh, chi trả học phí cho con cái, … Cho vay sản xuất kinh doanh: Đây là hình thức NH cấp vốn cho cá nhân, hộ gia đình nhằm đáp ứng các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh, cụ thể như các khoản vay được sử dụng để sửa chữa nâng cấp tài sản cố định, đầu tư mở rộng nhà máy sản xuất, các khoản vay để mua chứng khoán, vàng.
Căn cứ theo thời hạn khoản vay Cho vay KHCN ngắn hạn: là khoản vay được NH cấp cho khách hàng với thời hạn < 1 năm, nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn cá nhân hoặc vốn kinh doanh tạm thời. Cho vay KHCN trung hạn: là khoản vay được NH cấp từ trên 1 đến 5 năm cho các mục đích vay vốn như cải thiện cơ sở, nhà máy hoặc mua thiết bị máy móc, … Chi vay dài hạn: là khoản vay được NH cấp trên 5 năm cho các mục đích vay về mua và sửa chữa nhà, … 2. Căn cứ vào hình thức bảo đảm Cho vay không có tài sản bảo đảm: Đối với hình thức này, NH chỉ dựa vào mức độ uy tín và mức độ tín nhiệm của khách hàng, chủ yếu áp dụng cho các khách hàng có sự tin cậy và gắn bó lâu năm. NH cung cấp vốn mà không cần khách hàng phải thế chấp tài sản bảo đảm, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba cho khoản vay.
Cho vay có tài sản bảo đảm: Đối với hình thức này, NH yêu cầu người đi vay phải thế chấp tài sản bảo đảm, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba làm tài sản thế chấp cho khoản vay. Trường hợp khách hàng vay không trả được gốc và lãi khi đến hạn thì bên NH (bên cho vay) có quyền xử lý các tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật hoặc bên bảo lãnh phải chịu nhiều trách nhiệm liên đới để hoàn 12 trả số tiền đã vay. Tài sản thế chấp cho khoản vay có thể là ô tô, nhà ở hoặc các tài sản có giá trị khác, có giá trị sử dụng đảm bảo cho việc hoàn trả khoản vay. Một số lý thuyết có liên quan về hành vi khách hàng: 2.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action -TRA) Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được phát triển năm 1967 và được Ajzen Fishbein thảo luận thêm vào năm 1975.