Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu: Trình bày về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp thực hiện, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của đề tài. Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết: Trình bày tóm tắt các lý thuyết có liên quan, và các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu khung phân tích và mô hình phân tích, phương pháp phân tích, kiểm định, mô hình hồi quy. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả nghiên cứu qua các bước như tính tần suất, thống kê mô tả, mô hình hồi qui, kiểm định thang đo,.
Chương 5: Ket luận, kiến nghị và gợi ý chính sách. 3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp hành luật thuế vê hỗ sơ kê khai thuế của Người nộp Thuế tại TP. HCM CHƯƠNG II - TÔNG QUAN VÈ cơ SỞ LỶ THUYẾT 2.1 Khái niệm về thuế: Theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006: Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách NN. Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2007) viết : “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho NN theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”.
Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của NNT. Tính tất yếu này xuất phát từ một số cơ sở như sau: - Thuế là khoản chi phí mà NNT phải trả cho sử dụng các tài sản quốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, hệ thống thông tin. Vì vậy, NNT phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho NN để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sử dụng. - Thuế thu từ NNT là khoản thu chủ yếu của NSNN nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tể xã hội như chi tiêu cho các hoạt động cung ứng các dịch vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô.
Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho xã hội, đặc biệt ở những nước mà NSNN chủ yếu dựa vào nguồn thu nội bộ. Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vì vậy nếu NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế thì đó chính là tín hiệu tích cực và có lợi đối với NSNN. - Thuế đảm bảo cho NN thực hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tể và thực hiện các định hướng phát triển của NN. Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của NNT là tất yếu bởi đây là công cụ mà NN sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tể nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng.
- Việc nộp thuế của NNT sẽ đảm bảo tính công bằng trong chấp hành nghĩa vụ thuế giữa những NNT ở các thành phần kinh tể, ở các ngành kinh tế và ở các loại hình quy mô khác nhau. Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một NNT sẽ ảnh hưởng tích cực đến những NNT khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong cộng đồng NNT, kích thích sự chấp hành của đại bộ phận những NNTcòn lại, đặc biệt là các đối tượng 4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp hành luật thuế về hồ sơ kê khai thuế của Người nộp Thuế tại TP. HCM hoạt động trong khu vực phi chính thức và những NNT đang khai thác các hình thức tránh thuế. Xét theo ảnh hưởng tâm lý hành vi, việc nhận thức được nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu sẽ tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hoá sự miễn cưỡng đối đầu cao của những' NNT, kích thích sự chấp hành luật thuế tiềm năng.
Tóm lại, nộp thuế phải được NNT nhận thức là một nghĩa vụ tất yểu. Quản lý thuế của NN quan trọng nhất là phải làm cho NNT nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự chấp hành luật thuế một cách đầy đủ và kịp thời.2 Khái niệm Người nộp thuế Theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Người nộp thuế là khái niệm để chỉ các thể nhân hoặc pháp nhân được pháp luật xác định có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước, bao gồm: - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác thuộc Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế. - Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách nhà nước. - Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, gồm: Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam ký họp đồng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy định của pháp luật về đầu tư và không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam; Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập cho người có thu nhập thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân; Tổ chức làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển từ các cảng biển Việt Nam ra nước ngoài hoặc giữa các cảng biển Việt Nam; - Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (đại lý thuế); Người nộp thuế có thể chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có người nộp thuế, trong cùng một thời gian có thể kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau.
Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, “Người nộp thuế” được dùng trong đề tài là các tổ chức, không bao gồm các cả nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể.3 Quan niệm về chấp hành luật thuế Chấp hành luật thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế: 5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến hành vi chấp hành luật thuế vê hồ sơ kê khai thuế của Người nộp Thuế tại TP. HCM Theo CQT Australia, “Chấp hành luật thuế là việc NNT đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo các quyết định của toà án” Theo Andreoni và Erard B. (1998) cho rằng việc chấp hành luật thuế nên được định nghĩa là sự sẵn lòng của NNT chấp hành pháp luật về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia. Đe đo lường và đánh giá mức độ chấp hành của NNT, mỗi quốc gia sử dụng các phương pháp, cách thức tiếp cận khác nhau, cụ thể: Theo quan điểm của Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế của OECD (2004), thì tính chấp hành của NNT được chia thành 2 nhóm chính sau đây: - Chấp hành quy định hành chính: là việc NNT chấp hành các quy định hành chính về việc kê khai, nộp thuế đúng hạn.
Thông thường, các quy định liên quan đến xác định hành vi chấp hành quy định hành chính thường được thể hiện khá rõ ràng trong các văn bản luật. Tuy nhiên việc xác định chấp hành kỹ thuật lại khá phức tạp vì khi các luật thuế quy định không rõ ràng và dễ hiểu thì việc xác định chính xác số thuế phải nộp sẽ gặp nhiều khó khăn. - Chấp hành kỹ thuật: là việc NNT thực hiện tính toán và nộp thuế đúng theo quy định tại các điều của Luật thuế. Như vậy có thể hiểu, tính chấp hành của NNT là việc NNT chấp hành và thực hiện một cách đẩy đủ, chỉnh xác và kịp thời các qui định, thủ tục về thuế theo pháp luật.
Với quan niệm như trên, tính chấp hành về hồ sơ khai thuế bao gồm việc NNT thực hiện đúng các quy định, thủ tục về thuế theo pháp luật ở ba nghĩa vụ cơ bản đó là: về nghĩa vụ đãng ký thuế, NNT kê khai đầy đủ những thông tin của mình, nghĩa vụ phải nộp một (hoặc một số) loại thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế đúng thời hạn; kê khai đầy đủ những thay đổi về thông tin đăng ký thuế đúng thời hạn quy định. về nghĩa vụ khai thuế, NNT sử dụng hồ sơ khai thuế (biểu mẫu) của từng loại thuế theo qui định của Luật quản lý thuế để kê khai đầy đủ các chỉ tiêu và nộp cho CQT đúng thời hạn. về nghĩa vụ cung cấp thông tin, NNT tự tính đúng số thuế số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế theo qui định của từng Luật thuế, Pháp luật thuế; cung cấp (hoặc lưu giữ) đầy đủ các hồ sơ, chứng từ liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp. 6 Cácyếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp hành luật thuế vê hỗ sơ kê khai thuế của Người nộp Thuế tại TP.4 Các cấp độ chấp hành luật thuế của NNT Điểm xuất phát của CQT là cần hiểu được sự chấp hành luật thuế của NNT.
CQT cần thấy rằng sự chấp hành luật thuế của NNT không đơn giản là chấp hành hay không chấp hành mà diễn ra ở nhiều mức độ hay cấp độ khác nhau. Vì vậy, CQT cần phân biệt đâu là nhóm chấp hành, không chấp hành và sự chấp hành của từng nhóm đối tượng diễn ra ở mức độ nào? Từ đó, CQT sẽ có chiến lược thích họp đối với từng nhóm NNT.1 Các mô hình cấp độ chấp hành thuế Braithwaite (2001) đã tiến hành phân đoạn cấp độ hay mức độ chấp hành của NNT dựa trên mức độ sẵn sàng và khả năng thực hiện đúng những nghĩa vụ thuế của NNT. Đây cũng chính là các cấp độ bày tỏ mối quan hệ và thái độ của NNT với CQT, hay thể hiện mức độ chấp nhận hay từ chối các quy định của luật thuế, các kế hoạch và công cụ quản lý thu thuế. Để đánh giá sự chấp hành luật thuế của NNT thì biến số về cấp độ (mức độ) chấp hành là biến số đầy đủ phản ánh rõ sự chấp hành cả về tính tự nguyện, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Sự chấp hành luật thuế của NNT được phân đoạn theo 4 cấp độ chấp hành như sau (sơ đồ 1.1 Mô hình các cấp độ chấp hành luật thuế Cam kết: NNT cảm thấy thoải mái với hoạt động quản lý thuế, họp tác với CQT theo các kế hoạch quản lý thuế và chấp hành một cách tích cực, thậm chí có thể thay mặt CQT khuyến khích đối tượng khác chấp hành .