CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán thành công hay các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của AIS đa phần sử dụng phương pháp định lượng (Abdallah (2013); Nicolaou (2000); Thong (2001)), một số ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính (Ashari (2008), và phương pháp hỗn hợp (Yap và cộng sự (1992)). Cụ thể các nghiên cứu ở một số quốc gia như sau: Tại Philippines các nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến là nghiên cứu “Mô hình ngẫu nhiên về nhận diện tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán: Hiệu quả điều phối và kiểm soát của tổ chức”. Tác giả đã dùng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích 600 doanh nghiệp tại Philippines.
Dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên Nicolaou (2000) đã xây dựng mô hình và giả thuyết rằng sự phù hợp của “AIS tích hợp” đối với nhân tố “Các yêu cầu điều phối và kiểm soát của tổ chức” sẽ tác động tích cực đến tính hữu hiệu của AIS. Trong đó nhân tố “Các yêu cầu điều phối và kiểm soát của tổ chức được tác động tích cực bởi các nhân tố (1) Mức độ chuẩn hóa tổ chức; (2) Sự phụ thuộc thông tin giữa các khu vực chức năng; (3) Sự phụ thuộc trong chia sẻ thông tin của tổ chức và liên kết trao đổi dữ liệu điện tử được kiểm tra. Trong phương pháp nghiên cứu định lượng với công cụ phân tích LISREL 7, Nicolaou (2000) đã dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để thiết lập các mô hình đo lường phù hợp cho kiểm định mô hình cấu trúc; Phương pháp phổ biến thiên vị (CMB) để kiểm tra sự phù hợp của một mô hình một nhân tố với một mô hình bao gồm nhân tố độc lập và nhân tố phụ thuộc khác, cụ thể là sự phù hợp của “AIS tích hợp” đối với nhân tố “Các yêu cầu điều phối và kiểm soát của tổ chức” và nhân tố “Tính hữu hiệu của AIS”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự phù hợp giữa “AIS tích hợp” và các yếu tố ngẫu nhiên của nhân tố “Các yêu cầu điều phối và kiểm soát của tổ chức” sẽ dẫn đến một hệ thống thành công hơn.
Trong khi đó, sự phù hợp của AIS tích hợp với thông tin đầu ra có sẵn có ý nghĩa rất nhỏ với Tính hữu hiệu của AIS. Nghiên cứu 10 đã góp phần vào việc nâng cao một AIS hữu hiệu trong chuỗi nghiên cứu về tính hữu hiệu của AIS. Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu bị hạn chế do tất cả các biến nghiên cứu tại một thời điểm duy nhất và được sử dụng để phân tích mối quan hệ. Việc sử dụng các câu trả lời tổng hợp cho các mục câu hỏi xuất hiện trên cùng một công cụ sẽ tạo ra một số rủi ro.
Tại Singapore, điển hình có nghiên cứu Thong (2001) đã nghiên sự ảnh hưởng của các nhân tố trong việc triển khai hệ thống thông tin thành công các doanh nghiệp nhỏ tại Singapore. Tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật bình phương tối thiểu từng phần (PLS) phân tích 400 doanh nghiệp nhỏ tại Singapore. Tác giả chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhỏ với một hệ thống thông tin thành công thì có xu hướng sử dụng các chuyên gia tư vấn bên ngoài, đầu tư vào hệ thống thông tin thỏa đáng, kiến thức về hệ thống thông tin của người dùng cao, sự tham gia của người dùng cao và sự hỗ trợ của Giám đốc điều hành cao. Chuyên gia bên ngoài là nhân tố chủ yếu của việc thực hiện hệ thống thông tin thành công trong các doanh nghiệp nhỏ.
Bên cạnh đó nghiên cứu còn có vài hạn chế: thứ nhất vì đây là một nghiên cứu cắt ngang, nguyên nhân của các mối quan hệ không thể được chứng minh hoàn toàn; Thứ hai, tỷ lệ phần trăm đáng kể của phương sai thành công thực hiện IS vẫn không giải thích được; Thứ ba, khi thực hiện khái quát hóa từ mẫu nghiên cứu, người ta phải xem xét bối cảnh của Singapore, một nước châu Á mới được công nghiệp hóa. Tại Malaysia, Ismail (2009) đã đề xuất một mô hình đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến “Tính hữu hiệu của AIS” bao gồm các nhân tố ảnh hưởng: (1) Sự phức tạp của hệ thống thông tin kế toán; (2) Kiến thức của nhà quản lý về hệ thống thông tin kế toán; (3) Kiến thức kế toán của nhà quản lý; (4) Sự tham gia của nhà quản lý trong việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán; (5) Hiệu quả tư vấn từ chuyên gia tư vấn; (6) Hiệu quả tư vấn từ đại lý/ nhà cung cấp phần mềm; (7) Hiệu quả tư vấn từ cơ quan chính phủ và (8) Hiệu quả tư vấn từ công ty dịch vụ kế toán. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu là định lượng, trong đó kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, kiểm định tương 11 quan tuyến tính qua hệ số Pearson sau đó chạy hồi quy đa biến, công cụ sử dụng cho việc phân tích 232 DNNVV là phần mềm SPSS. Nghiên cứu đã chỉ ra được các nhân tố “Kiến thức kế toán của nhà quản lý”; “Hiệu quả tư vấn từ đại lý/ nhà cung cấp phần mềm” và “Công ty dịch vụ kế toán” đóng góp tích cực đáng kể vào “Tính hữu hiệu của AIS”.
Nghiên cứu đưa ra một số quan điểm như nhà quản lý DNNVV cần tiếp thu thêm kiến thức về kế toán để hiểu rõ hơn các yêu cầu thông tin kinh doanh, đồng thời các DNNVV nên thuê các nhà cung cấp phần mềm có đủ năng lực chuyên môn, đủ kinh nghiệm và có sự hiểu biết về các điểm đặc thù của DNNVV để khắc phục những thiếu sót về kiến thức hệ thống thông tin kế toán. Bên cạnh đó các DNNVV nên duy trì mối quan hệ tốt với những công ty kế toán để giúp họ thực hiện một hệ thống thông tin kế toán hữu hiệu và trang bị kiến thức về AIS để đáp ứng nhu cầu thông tin của chính họ. Tại Jordan, Lutf và cộng sự (2016) sử dụng kỹ thuật bình phương tối thiểu từng phần (PLS) với phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích 187 DNNVV tại Jordan, xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng AIS. Nghiên cứu cho thấy các nhân tố “Khả năng tương thích”; “Cam kết của nhà quản lý/chủ sở hữu”; “Sự chủ động của tổ chức”; “Áp lực cạnh tranh” và “Sự hỗ trợ của Chính phủ” tác động mạnh mẽ đến “Việc sử dụng AIS” của các doanh nghiệp trong khi đó các nhân tố “Đổi mới công nghệ” và “Mạng lưới không chính thức” thì không tác động đến “Việc sử dụng AIS”.
Nghiên cứu cũng có một số hạn chế như đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn trong các DNNVV thuộc lĩnh vực sản xuất của Jordan, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu cắt ngang, do đó, mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố không thể được thiết lập. Tiếp theo phải kể đến nghiên cứu A. Al-Okaily (2020), tác giả đã sử dụng lại mô hình hệ thống thông tin thành công của DeLone và McLean (2016) nhằm khám phá sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công hay tính hữu hiệu của AIS tại công ty niêm yết ở Jordan. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình phương trình cấu trúc – bình phương một phần (PLS- SEM) cho việc kiểm tra và phân tích dữ liệu nghiên cứu.
Số liệu thu thập được từ 12 117 Giám đốc tài chính đang làm việc tạo các công ty niêm yết ở Jordan. Kết quả cho thấy các nhân tố “Chất lượng thông tin”, “Chất lượng dịch vụ” và “Chất lượng đào tạo” có những đóng góp tích cực và đáng kể đến “AIS thành công/hữu hiệu”. Tuy nhiên, các nhân tố “Chất lượng hệ thống” không có bất kỳ tác động đáng kể nào đến “AIS thành công/hữu hiệu”. Abdallah (2013) đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc sử dụng AIS đến chất lượng BCTC nộp cho Cục thuế ở Jordan.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với số liệu phân tích thu thập từ 50 kế toán viên đang làm việc trong bộ phận thuế thu nhập và bán hàng tại thủ đô Amman (chiếm hơn 85% tổng số hoạt động của bộ phận). Phân tích mô tả thống kê, đo lường độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha sau đó tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định giả thuyết mô hình. Nghiên cứu đã cho thấy có sự tác động tích cực của nhân tố “Việc sử dụng AIS” đến “Chất lượng BCTC” nộp cho Cục Thuế thu nhập ở Jordan. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất việc phát triển phần mềm và phần cứng trong hệ thống thông tin và đào tạo nhân lực để hài hòa hệ thống thông tin kế toán.
Đồng thời cần quan tâm đến việc trang bị hệ thống kết hợp với chương trình kế toán sẽ giúp các công việc trong bộ phận làm việc hiệu quả hơn. Các nghiên cứu định tính về AIS theo tác giả được biết còn rất hạn chế. Điển hình là nhà nghiên cứu Ashari (2008). Nghiên cứu đã tổng hợp phân tích các lý thuyết như Lý thuyết kỳ vọng; Lý thuyết hành động hợp lý; Lý thuyết hành vi hoạch định; Lý thuyết mô hình chấp nhận; Lý thuyết nhận thức xã hội và Lý thuyết khuếch tán đổi mới để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống thông tin kế toán thành công tại các DNNVV ở Indonesia.
Các nhân tố ban đầu xác định là: “Nhà quản lý”; “Liên quan đến người dùng”, “Chuyên gia bên ngoài”; “Môi trường”. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính phỏng vấn 53 các nhà quản lý tại các DNVV ở Indonesia. Công cụ Smart PLS được đưa vào phân tích, kết quả cho thấy các nhân tố “Nhà quản lý”; “Chuyên gia bên ngoài” ảnh hưởng tích cực đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán. Trong khi đó, các nhân tố “Liên quan đến người dùng” và “Môi trường” không ảnh hưởng đến sự thành công 13 của hệ thống thông tin kế toán.
Ngoài ra, nhân tố “Nhà quản lý” và “Môi trường” có tác động tích cực đến nhân tố “Liên quan đến người dùng”. Tương tự như phương pháp nghiên cứu định tính, các nghiên cứu hỗn hợp bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng vẫn còn ít. Nghiên cứu điển hình là Yap và cộng sự (1992) đã nghiên cứu các yếu tố liên quan đến thành công của hệ thống thông tin tại các doanh nghiệp nhỏ ở Singapore.