CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Trên thế giới 1.Tính đa dạng và phân bố của mây Trên thế giới có khoảng 600 loài mây song thuộc 14 chi (Dransfield và Uhl, 1998) [12]. Riêng Đông Nam á có 9 chi, 316 loài. Chi mây nếp (Calamus) có 400 loài.
Những chi khác có số loài ít hơn như Korthalsia (26 loài). Có 8 chi với số loài dưới 10, trong đó có 3 chi chỉ có một loài. Châu Phi có 19 loài và 4 chi chủ yếu Calamus, Eremospatha, Laccosperma, Oncocaiamus còn lại những loài khác đều phân bố ở Nam, Đông Nam á và Nam Trung Quốc: Indonesia với 300 loài khác nhau. Malaysia 104 loài thuộc 9 chi, Thailand có khoảng 50 loài và Philippines có 91 loài, Srilanka có 10 loài, ấn Độ có 53 loài .Danh mục các loài song mây lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1986.
Một số ấn phẩm đã đề cập đến phân loại và sử dụng song mây : (Manokaran N 1989) [20] ;(Manokaran N, 1985) [21] ; (Rao 1995)[23].2 Nghiên cứu về thâm canh rừng Evans, J. (1992) [14] cho rằng: Trước năm 1965 các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới mới chỉ trồng khoảng 60,7 triệu ha rừng, nhưng đến năm 1980 đã trồng được gần 21 triệu ha và đến năm 1990 đã đạt gần 43 triệu ha, chiếm khoảng 30% diện tích rừng trồng trên toàn thế giới, đến năm 2000 diện tích rừng trồng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới khoảng 60 triệu ha. Các loài cây sử dụng để trồng rừng chủ yếu là: Eucalypcua, Pinus, Acacia, swietenia macrophylla.Mục tiêu trồng rừng chủ yếu là cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy ván nhân tạo, gỗ xẻ, chất đốt và bảo vệ môi trường sinh thái. Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazin, Golcalves J.M và cs, (2004) [18] cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn” thích 4 n hợp giữa kiểu gien với điều kiện lập địa và kĩ thuật canh tác.
Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan tới các yếu tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng như sau: Nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất. Việc phát triển rừng theo hướng trồng thâm canh được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỷ trở lại đây, nhiều quốc gia tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng, vì vậy mà năng suất rừng trồng bằng một số loài cây mọc nhanh như keo, bạch đàn và một số cây trồng khác đạt được những thành tựu đáng kể Ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống bạch đàn lai (Eucalyplus hybrids) có năng suất đạt tới 35 m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7. Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyplus grandis đạt tới 55 m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn được giống Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt 19 m3/ha/năm, giống Paraserianthes jaicataria trồng ở Malaysia được 7 - 10 năm cũng đạt 30 m3/ha/năm ( Pandrey, 1983) [22], Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E.gradis đạt từ 35 - 40 m3/ha/năm, giống E.urophylla đạt trung bình tới 55 m3/ha/năm, có nơi lên tới 70 m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988) [9]. Tập hợp các kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức nông lương thế giới (FAO, 1984) [16] đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, lọai đất và hiện trạng thực bì.3 Nghiên cứu về mây nếp và thâm canh loài mây nếp Thị trường buôn bán song mây đã được xác lập, mặt hàng song mây xuất khẩu trên thế giới hàng năm đạt 600 triệu USD.
Toàn bộ sản phẩm này đều có nguồn gốc từ các nước Châu Á, Thái Bình Dương; trong đó Malaysia 19,5%, Indonêsia 15,9%, Việt Nam 14% và Trung Quốc 12,4%, còn lại là các nước 5 n khác (FAO, 1997) [15]. Khi nghiên cứu bón phân cho rừng trồng Thông P. Herrero và cs (1988) [19] cũng cho thấy phân bón phosphate đã nâng sản lượng rừng từ 56 lên 69 m3/ha sau 13 năm trồng.Theo Nguyễn Huy Sơn (2002) [6] Ở Trung Quốc áp dụng biện pháp tưới nước thấm nhỏ giọt cho rừng trồng cây Dương Lai (Populuseuramericana) trên vùng đất bán khô hạn, kết quả thu được sau 6 năm tuổi cho thấy đường kính ngang ngực tăng trưởng gấp gần 3 lần so với đối chứng Trên thế giới song mây được trồng ở 3 quy mô, quy mô nông trường với mục đích thương mại, quy mô làng xóm để dùng làm hàng rào hoặc dùng trong gia đình, và những thử nghiệm tại các cơ sở bán sản xuất nhỏ. Nguồn song mây vẫn chủ yếu khai thác trong rừng tự nhiên.
Khoảng 50 loài mây có giá trị kinh tế và được sử dụng ở nhiều nước. Nghề trồng mây được bắt đầu khoảng 100 năm về trước nhưng loài mây trồng còn quá ít. Việc lựa chọn loài được dựa vào phạm vi phân bố, giá trị kinh tế, mức độ thuần dưỡng, khí hậu sinh thái, tài nguyên di truyền (Rao, 1995) [23]. Canh tác song mây thành rừng xuất hiện ở Kalimantan vào năm 1850, sau đó được mở rộng ra rừng thứ sinh nghèo và rừng trồng cao su ở Malaysia và Indonesia (Aminudin 1985) [8].
Song mây là loài cây khá thân thuộc với người dân địa phương ở nhiều Quốc gia trên thế giới. Song mây được gây trồng từ lâu và chủ yếu là ở các nước Châu Á. Việc gây trồng được thực hiện trên cả quy mô lớn và nhỏ. Tuy nhiên, trồng mây theo hướng thâm canh thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến.
Như vậy việc trồng thâm canh song mây nói chung và loài Mây nếp nói riêng là chưa được quan tâm và đầu tư. Indonesia: là nước sản xuất nhiều mây nhất, mỗi năm nước này sản xuất tới 400 nghìn tấn mây, chiếm 80% lượng song mây thế giới, giá trị xuất 6 n khẩu đạt tới 83 triệu USD mỗi năm. Số loài được gây trồng là 3 loài: Calamus ceasius và C. Malaysia: là một nước có truyền thống sản xuất mây sau Indonesia, chiếm 10% sản lượng mây của thế giới, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 30 triệu USD mỗi năm.
Việc gây trồng từ những năm 1913, nhưng chỉ có hai loài được gây trồng là: Calamus ceasius và C. Phillipines: việc trồng thử nghiệm mây đã được Viện nghiên cứu cây rừng (nay là Cục nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái) tiến hành từ năm 1977 đến nay hàng năm nước này xuất khẩu trị giá 30 triệu USD. Tuy nhiên chỉ có một loài Calamus merrillii là được gây trồng. Nhân giống mây (C.manillensis) bằng phương pháp nuôi cây mô đã được thực hiện bởi (Dekkers và Rao (1989) [11] tác giả nuôi cấy mô thành công đối với các loài G.trachycoleus với việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng 2,4D va NAA (5 mg/l).
maman cũng được nhân giống thành công bằng phương pháp nuôi cấy mô (Chuthamas và cộng sự, 1989) [10]. Hiện nay, phương pháp chọn giống phổ biến ở Indonesia và Malaysia là ươm cây con từ hạt, sau đó đánh giá sinh trưởng của cây con ở giai đoạn xuất vườn để chọn ra cây mây ưu trội. Vườn thực vật ở Paradenia - Srilanka, Indonesia, Nam Trung Quốc lưu trữ nhiều giống mây tốt. Tính đa dạng và phân bố của mây Ở Việt Nam, song mây chưa được nghiên cứu nhiều.
Tới nay chưa có một cuốn sách nào viết về vấn đề song mây ở nước ta. Các tài liệu đã xuất bản chỉ dừng lại ở một số bài báo về kinh nghiệm gieo trồng song mây ở các địa phương. Chúng ta cũng chưa có quy trình về gieo trồng và chế biến mây song được Bộ ban hành. Song mây được sử dụng chủ yếu làm hàng thủ công mỹ nghệ (12 loài), vật liệu xây dựng (16 loài) làm thuốc (10 loài), cho tinh dầu (4 loài).
Cây Mây thường phân bố chủ yếu ở rừng kín, lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và núi trung bình. Tuy nhiên do đặc điểm sinh thái của song mây là ưa sáng mạnh ở tuổi trưởng thành nên dưới tán rừng nguyên sinh rất ít gặp song mây. Thông thường cây mây phân bố chủ yếu ven các đường đi, ven sông suối hay các khoảng trống trong rừng được mở ra do các cây già cỗi đổ. Ở những khu rừng thứ sinh sau khai thác chọn, độ tàn che từ 0,4 - 0,6, cây mây mọc và phát triển mạnh.
Trong các khu rừng nửa rụng lá, số lượng song mây giảm nhiều, thường gặp một số loài chịu hạn như: C. Trong rừng tre nứa và rừng ngập mặn không gặp song mây. Về độ cao, song mây Việt Nam chỉ phân bố tập trung ở độ cao dưới 700 m, ở trên độ cao 700 m số lượng các loài song mây và số lượng cá thể giảm dần.2 Nghiên cứu về thâm canh rừng Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [7] “…trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác dựa trên cơ sở đầu tư cao, bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp liên hoàn. Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo, phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ cho hiệu quả lớn, đồng thời cũng phải duy trì và cải thiện được tiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững”.
Như vậy, trồng rừng thâm canh đạt hiệu quả cao phải đáp ứng các yêu cầu tổng hợp của một phương thức kinh doanh thoả mãn các lợi ích về kinh tế - môi trường và xã hội cao nhất, thể hiện trên các mặt: 8 n - Hiệu qủa về mặt kinh tế: là hiệu quả về đầu tư và thu nhập trên mô hình sử dụng đất hay mô hình trồng rừng thâm canh.