chương 1 đã trình bày một số vấn đề lý thuyết cơ bản về bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống, vai trò và các nhân tố tác động đến sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống, cơ sở pháp lý và khoa học cho việc bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống, đặt nền tảng cho việc hiểu rõ hơn về các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực này. Các khái niệm cơ bản như làng nghề, làng nghề thủ công truyền thống, bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống đã được định nghĩa và phân tích chi tiết. Chương này cũng làm rõ vai trò quan trọng của làng nghề trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, tạo việc làm và thúc đẩy kinh tế địa phương. Những nền tảng lý thuyết này là cơ sở vững chắc cho các chương sau đi sâu vào thực trạng và đề xuất những giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG TẠI HÀ NỘI 2. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội về làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội 2. Khái quát về đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa Hà Nội Hà Nội nằm ở trung tâm của miền Bắc Việt Nam, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước. Hà Nội tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; tiếp giáp với Hà Nam, Hòa Bình về phía Nam; phía Đông tiếp giáp với Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên; tiếp giáp với Hòa Bình, Phú Thọ ở phía Tây.
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội bao gồm thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình. Hiện nay, Hà Nội là một trong 17 thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất (với 333. Địa hình Hà Nội vừa có núi, có đồi, thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, đồng bằng chiếm tới ¾ diện tích tự nhiên của thành phố. Dân số hiện nay của thủ đô là hơn 7 triệu người.
Hà Nội với lịch sử lâu đời đã trở thành một trung tâm văn hóa quan trọng, thu hút được nhiều người đến đây sinh sống, học tập, tham quan tìm hiểu và trải nghiệm. Cơ sở hạ tầng giao thông phát triển, thuận lợi cho việc mua bán trao đổi hàng hóa, nguyên vật liệu chính là yếu tố quan trọng để Hà Nội phát triển các làng nghề. Nơi đây có rất nhiều di tích lịch sử, danh thắng, bảo tàng, lễ hội văn hoá đặc sắc. Thành phố Hà Nội cũng là nơi tụ hội của nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và trung tâm văn hóa, thu hút đông đảo sinh viên và du khách trong nước và ngoài nước.
Với vị trí địa lý đắc địa này Hà Nội, luôn được tiếp nhận và phát triển bởi các nền văn hóa khác nhau từ các vùng lân cận, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong văn hóa. Tuy nhiên, vị trí địa lý này cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho sự phát triển văn hoá, cũng như sự cạnh tranh với các khu vực lân cận và khó khăn trong việc bảo tồn gìn giữ sao để không bị mai một hay mất đi bản sắc vốn có của mình. Khái quát về làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội Làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội đã được hình thành và phát triển từ rất lâu đời, từ thời kỳ đồ đá và đồ đồng. Tuy nhiên, đến thời kỳ Trần - Lê (thế kỷ 13 - 18), các làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội mới phát triển mạnh mẽ.
Các làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội đã trải qua nhiều thăng trầm, tuy nhiên, đến nay, nhiều làng nghề này vẫn tồn tại và phát triển, đóng góp rất lớn vào nền kinh tế và văn hóa của đất nước. Các ngành nghề thủ công truyền thống tại Hà Nội được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm chuyên sản xuất một loại hàng hóa nhất định. Các nhóm này bao gồm làng nghề đúc đồng, làng nghề làm giấy, làng nghề làm lụa, làng nghề làm gốm sứ, làng nghề làm đèn lồng, làng nghề làm đồ da, làng nghề làm đồ gỗ và nhiều nhóm khác. - Giới thiệu khái quát về các làng nghề mà đề tài chọn để khảo sát: Làng gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Làng gốm Bát Tràng là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời và lừng danh nhất của Việt Nam, nằm ở huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Nói về nghề gốm, dù trong lịch sử quá khứ hay ở thời đại ngày nay, không thể nào không nói đến Bát Tràng. Làng gốm có tuổi nghề khoảng hơn nửa thiên niên kỷ nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 10 km về phía Đông - Nam. Theo các thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian thì nghề gốm xuất hiện ở Bát Tràng từ thế kỷ XV, dưới thời Trần. ở vùng đất ven sông Hồng phía dưới kinh thành Thăng Long này bắt đầu trở thành nơi định cư của những thợ gốm từ làng Bồ Bát, tỉnh Thanh Hoá tới.
Làng Bồ Bát trước đó còn có tên là Bạch Bát. Cho nên khi mới đến lập nghiệp ở vùng này người dân Bồ Bát đặt tên cho quê mới của mình là Bạch Thổ phường, tức phường đất trắng [14]. Đất trắng là một thứ đất sét màu trắng dùng làm đồ sành (gốm sành hay gốm đàn) rất tốt. Một thời gian sau, công việc sản xuất gốm đã đi vào thế ổn định, người dân ở đây lại đổi tên Bạch Thổ phường thành Bát Tràng phường, ý nói là phường có trăm lò bát.
Rồi cuối cùng họ mới đổi tên thành Bát Tràng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã cho biết: Bát Tràng có tên là xã Bát, làng Bát từ đời nhà Trần. Và thế là suốt 500 năm nay, làng nghề này vẫn giữ tên làng Bát Tràng. Nghề gốm ở Bát Tràng hết sức nổi tiếng.
Địa danh gốm đã đi vào ca dao và thơ, có thể kể đến như: - Ước gì anh lấy được nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây - Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông (Ca dao) Bát Tràng hiện nay có diện tích 153 ha, dân số khoảng 6000 người với hơn 1500 hộ. Hơn 90% số hộ dân ở đây làm nghề gốm. Làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội Xã Chuyên Mỹ nằm bên bờ tả ngạn sông Nhuệ, là vùng đất cổ khá lâu đời, một trong những vùng trũng nhất của huyện Phú Xuyên; cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 40km, được hình thành từ thế kỷ XI. Xã có 7 thôn là: Thượng, Hạ, Trung, Ngọ, Bối Khê, Đồng Vinh, Mỹ Văn.
Cả 7 thôn đều là nơi có các làng nghề khảm trai truyền thống, đã có hàng ngàn năm tuổi. Trong số 7 làng nghề kể trên thì Chuôn Ngọ là làng nghề khảm trai truyền thống lâu đời nhất, nổi danh nhất, với 95% số hộ đều làm nghề này. Tuy cũng còn có những truyền thuyết khác nhau về người đưa nghề khảm trai về làng, nhưng bản Thần tích hiện còn lưu giữ tại đền thờ của làng cho thấy rằng người có công đưa nghề khảm trai về làng Chuồn Ngọ là cụ Trương Công Thành (1053 - 1099). Cụ Trương Công Thành, người Phường Ngọ, con ông Trương Huy và bà Trần Thị Ba, tinh thông âm luật, kinh thư; đỗ Thái học sinh rồi đỗ tiếp Khoa Bách học Hoành từ.
Cụ từng là một vị tướng thời nhà Lý. Sau khi theo Lý Thường Kiệt đi đánh trận tại Châu Ung và Châu Khiêm thắng lợi trở về, cụ được ban thưởng tước hiệu Phổ Quang Bá Tuấn. Sau này gác kiếm từ quan, cụ đi chu du khắp thiên hạ, đến các bãi biển, triền sông nhặt vỏ trai, vỏ ốc lấp lánh các sắc màu mang về cắt mài, gọt dũa, ghép dán các hình chim muông, hoa lá, cây cảnh sơn thủy hữu tình vào các vật dụng và đồ thờ cúng. Dần dần nghề khảm trai hình thành.
Cụ chính là người đã mang nghề truyền dạy cho dân làng. Từ đó, làng Chuôn Ngọ có nghề khảm trai, có việc làm, đời sống ngày càng ấm no. Hiện nay, tại làng Chuôn Ngọ có đền thờ Cụ đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử từ năm 1996. Dân làng suy tôn Cụ vừa là tổ nghề khảm trai, vừa là Thành hoàng làng.
Sản phẩm khảm trai là loại hàng mỹ nghệ cao cấp như các loại hoành phi, câu đối bài trí tại các đình, chùa và những đồ dùng nội thất đặc biệt được trưng bày trong gia đình của những người giàu có xưa kia, như: sập gụ, tủ chè, bình phong với các đề tài chọn trong các tích sử, hoặc cây cảnh thiên nhiên: tùng, cúc, trúc, mai. Các mặt hàng khảm trai của Chuôn Ngọ được chia làm hai mảng lớn: khảm trực tiếp lên các sản phẩm gỗ, đồi mồi, sừng, đồng, đá, nhựa; và mảng thứ hai là khảm trai sơn mài. Đã có câu ca của người dân Chuôn Ngọ: “Khảm trai trên gỗ, trên đồng Mà như khảm cả tấm lòng vào tranh “ Hay: “Hỡi cô thắt dải lưng xanh Có về Chuôn Ngọ với anh thì về Chuôn Ngọ có cây bồ đề Có sông tắm mát có nghề khảm khay” Những câu ca dao trên không phải ngẫu nhiên lưu truyền trong dân gian. Hơn 100 năm trước, nghề khảm trai ở Chuôn Ngọ khá hưng thịnh.
Các lái buôn và thương gia các tỉnh miền Trung, đặc biệt là các lái buôn người Huế ra Chuôn Ngọ đặt và mua hàng về làm lễ vật dâng cống triều đình và bán cho các quan lại, những tầng lớp giàu có ở kinh thành Phú Xuân (Huế). Những năm chiến tranh chống Pháp, huyện Phú Xuyên là vùng đất tranh chấp ác liệt, tưởng như nghề khảm trai bị mai một và tàn rụi dần. Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, kinh tế được phục hồi, nghề khảm trai ở Chuôn Ngọ được khôi phục lại. Các sản phẩm khảm, sơn mài trên gỗ dán và các chất liệu khác lại có cơ hội xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu.
Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, khảm trai Chuôn Ngọ lại đứng trước thách thức mất thị trường truyền thống, sản phẩm xuất khẩu không có đầu ra, sản xuất bị ngưng trệ, phải mất gần chục năm mới mở lại được thị trường trong nước và quốc tế. Hơn 20 năm trở lại đây, thị trường tiêu thụ khảm trai lại khởi sắc kể cả trong nước và nước ngoài.