Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền tham của gia phụ nữ trong quản trị nhà nước Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền tham gia của phụ nữ trong quản trị nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tham gia của phụ nữ trong quản trị nhà nước từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN TRỊ NHÀ NƢỚC 1.1 Khái quát về quản trị nhà nƣớc và quyền tham gia của phụ nữ 1.1 Khái niệm quản trị nhà nƣớc Khái niệm quản trị nhà nước được tiếp cận qua hai cách như sau: Từ góc độ chuyên môn/kỹ thuật: Cách tiếp cận thứ nhất nhấn mạnh yếu tố lãnh đạo, tức là cách thức sử dụng quyền lực nhà nước. Theo đó, quản trị nhà nước là quá trình hoạch định, tổ chức và kiểm soát hoạt động của các chủ thể trong xã hội và sử dụng các nguồn lực khác của quốc gia nhằm đạt được mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội mà nhà nước đề ra. Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã nhận định: “Quản trị là quá trình xây dựng và thi hành các chính sách trong một hệ thống các luật lệ bắt buộc và quy ước để thông qua và được áp dụng bởi quyền lực của một nhà nước và các thành phần ngoài nhà nước” [26, tr3]. Đây là cách tiếp cận được World Bank nhấn mạnh và áp dụng trong thúc đẩy quản trị tốt ở Châu Phi.
Từ góc độ chính trị: Là một cơ chế/mô hình tổ chức xã hội, gắn với vai trò và cách sử dụng quyền lực của nhà nước. Theo đó, quản trị nhà nước cơ chế ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định để quản lý, giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội ở một quốc gia. Có một số ví dụ về định nghĩa từ cách tiếp cận thứ hai, như là: Theo các nhà nghiên cứu Daniel Kaufmann, Aart Kraay, Massimo Mastruzzi, cho rằng “Quản trị là những truyền thống và các thể chế được áp dụng dưới cơ quan có thẩm quyền trong một quốc gia, trong đó bao gồm quá trình các chính quyền được bầu cử, điều hành và thay thế; tính khả năng của chính phủ để xây dựng và 11 thi hành các chính sách hợp lý và hiệu quả; và sự tôn trọng của các công dân và các cơ quan tổ chức quản lý các vấn đề kinh tế và xã hội liên quan đến công dân” [27, tr4]. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng “Quản trị là cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý nguồn lực kinh tế và xã hội của một quốc gia để phát triển.
khái niệm quản trị liên quan trực tiếp đến việc quản lý quá trình phát triển, liên quan đến cả khu vực công và khu vực tư nhân” [28, tr3]. Nó bao gồm chức năng và khả năng của khu vực công, cũng như các quy tắc và thể chế tạo ra khuôn khổ cho cả hoạt động kinh doanh công cộng và tư nhân, bao gồm trách nhiệm giải trình đối với hiệu quả kinh tế và tài chính và khung pháp lý liên quan đến các công ty, tập đoàn và quan hệ đối tác. Theo nghĩa rộng, “quản trị là về môi trường thể chế trong đó công dân tương tác với nhau và với các cơ quan / quan chức chính phủ” [28, tr3]. Quản trị nhà nước là một hiện tượng phức tạp, đa diện, mà mỗi định nghĩa nào đó cũng không thể nào phản ánh được mọi khía cạnh biểu hiện của hiện tượng này, mà chỉ phản ánh khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề của từng quốc gia quy chuẩn.
Trong thực tế, khái niệm này cũng được sử dụng trong một số bối cảnh khác, chẳng hạn như “quản trị doanh nghiệp” (corporate governance) [29], “quản trị quốc tế” (international governance) [30]. Ngoài ra, cách tiếp cận thứ hai tạo thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề về quản trị công trong các xã hội hiện đại mà ngày càng đa dạng về mặt lợi ích, quan điểm và văn hoá. Các hoạt động quản trị công cần phải được lên kế hoạch và thực hiện dựa trên một cơ chế phối hợp, có sự tham gia của các nhóm xã hội, nhóm lợi ích khác nhau mới có thể đảm bảo tính hiệu quả. Quản trị nhà nước nhằm đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lại.
Theo UNESCAP, quản trị nhà nước có 8 đặc trưng cơ bản: sự tham gia, định 12 hướng đồng thuận, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính đáp ứng kịp thời, hiệu quả và hiệu suất, công bằng và bao trùm và tuân thủ pháp quyền. Quản trị nhà nước tốt giúp giảm thiểu tối đa tham những, cân nhắc ý kiến của các nhóm thiểu số và lắng nghe tiếng nói của của nhóm yếu thế/bị tổn thương trong quá trình đưa ra quyết định. Tác giả đặc biệt muốn nhấn mạnh vào khía cạnh sự tham gia của các thành phần xã hội, các giới, các nhóm thiểu số về giới tính, dân tộc, tôn giáo…là cốt lõi của quản trị tốt. Việc tham gia có thể trực tiếp hoặc thông qua các thể chế hợp pháp hoặc qua các đại diện.
Dân chủ đại diện không nhất thiết có nghĩa là các mối quan tâm của các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội sẽ tự động được cân nhắc trong quá trình quyết định chính sách. Việc tham gia cần phải được thông báo cho các thực thể, các nhóm đối tượng và phải được tiến hành một cách có tổ chức. Điều đó có nghĩa là cần phải có tự do hiệp hội, tự do hội họp, tự do ngôn luận và cần phải có một xã hội công dân có tổ chức. Từ những phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy bản chất của quản trị chính là quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định để quản lý, giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội ở một quốc gia.
Như thế, quản trị là một thuật ngữ chủ yếu gắn với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước (quản trị quốc gia).2 Quyền tham gia của phụ nữ trong quản trị nhà nƣớc là gì? Về mặt nhận thức và về mặt pháp lý, quyền phụ nữ là một bộ phận tất yếu của quyền con người. Về mặt lý luận và pháp lý, phụ nữ có đầy đủ các quyền con người như quyền được sống, quyền tự do, quyền bình đẳng về quyền lợi với nam giới. Quyền phụ nữ cũng không tự nhiên đem đến cho phụ nữ mà phải đấu 13 tranh giành giữ, bảo vệ và thực hiện thông qua quá trình hành động cách mạng, hành động pháp luật và hành động thực thi trên thực tế các quyền. Quyền con người được hiểu là quyền tự nhiên vốn có của con người.
Quyền con người được hiểu là quyền tự nhiên vốn có của tiến hóa sinh học, do đó con người sinh ra đã có những quyền tối cao mà ai cũng phải công nhận và không ai có quyền vi phạm. Đó là những quyền gì và được thừa nhận như thế nào? Về nguyên tắc, quyền phụ nữ phụ thuộc vào thành quả của quá trình biến đổi, phát triển xã hội; việc thừa nhận, bảo vệ và biến đổi, phát triển xã hội; và việc thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền phụ nữ là điều kiện không thể thiếu đối với việc bảo đảm và thực hiện các quyền của con người và quyền của cộng đồng dân tộc, quốc gia, quốc tế nói chung. Tương tự như vậy có thể nói: trình độ thực hiện các quyền phụ nữ là thước đo của việc thực hiện các quyền con người trong xã hội; và không bảo đảm thực hiện các quyền phụ nữ thì mới thực hiện được một nửa các quyền con người. Về phạm vi quyền trong khái niệm quyền phụ nữ, trong khoa học pháp lý tồn tại những cách hiểu khác nhau.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về quyền phụ nữ thường hướng đến nội dung các quyền thể hiện trong pháp luật thực định hoặc thực tiễn bảo hộ, thực thi những quyền ấy. Vậy nên khái niệm quyền phụ nữ, nữ quyền hay quyền của phụ nữ chưa từng được các nhà khoa học Việt Nam khái quát. Trên thế giới, các nghiên cứu về nữ quyền đã tạo thành một trường phái luật học phát triển mạnh nhưng xung quanh khái niệm quyền phụ nữ vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau. 14 Nhận định trong các từ điển tiếng Anh thuật ngữ “women‟s rights” (quyền của phụ nữ) trong Từ điển tiếng Anh Oxford được giải thích: “là những quyền mà thúc đẩy địa vị pháp lý và xã hội bình đẳng của phụ nữ với nam giới” [31].
Còn theo Từ điển Anh - Mỹ, thuật ngữ này có nghĩa là: 1) “quyền về sự bình đẳng trong các lợi ích và cơ hội so với nam giới, thuộc về phụ nữ và dành cho phụ nữ”; 2) “các quyền kinh tế - xã hội, chính trị, pháp lý dành cho phụ nữ bình đẳng hoặc tương đương với những quyền đó dành cho nam giới” [32]. Khái niệm quyền phụ nữ phải được hiểu trong bối cảnh gắn kết chặt chẽ của hai yếu tố quyền con người và đặc thù giới của phụ nữ. Hai nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng Charlotte Bunch và Samantha Frost - giảng viên Đại học Illinois - đề cập trong cuốn Bách khoa toàn thư thế giới về phụ nữ: Những vấn đề và tri thức toàn cầu về quyền phụ nữ như sau: “Quyền phụ nữ là những quyền con người của phụ nữ thông qua lăng kính giới” [33]. Theo đó, quyền phụ nữ cũng là các quyền con người nhưng phản ánh những đặc thù giới tính của phụ nữ.
Đây có lẽ là cách hiểu phù hợp nhất về khái niệm quyền phụ nữ. Sở dĩ như vậy bởi vì với tư cách con người, phụ nữ có mọi nhân quyền như các cá nhân khác. Tuy nhiên, khái niệm quyền phụ nữ không chỉ đến tất cả mọi nhân quyền đó bởi nếu mang ý nghĩa như vậy thì chỉ cần dùng khái niệm “quyền con người” (human rights) chung cho cả phụ nữ và nam giới mà không cần phải xác định một khái niệm “quyền phụ nữ” (women‟s right) riêng. Phụ nữ là một nửa xã hội, một nửa thế giới nhân loại.