Chương 1 TONG QUAN VE VAN DE THU HOI DAT, GPMB VA TÁC ĐỘNG TỚI SINH KE CUA NGUOI DAN TRONG CONG CUOC DO THI HOA O VIET NAM 1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay 1. Định nghĩa đô thị hóa Đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Trong thời đại khoa học — công nghệ phát triển nhanh thì đô thị hóa là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Brian Berry (1976) cho rằng “ Đô thị hóa được coi như sự tập trung có tính chất không gian của con người và các hoạt động kinh tế.
Quá trình đô thị hóa nảy sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau”[36]. Quá trình đô thị hóa có thể khác nhau về thời gian và tốc độ ở các quốc gia, các vùng miền khác nhau, nhưng ở đâu thì quá trình này cũng có thé xảy ra, nó thé hiện sự tăng trưởng và phát triển của loài người. Thậm chí, với nhiều học giả, đô thị hóa là qua trình diễn ra từ rất sớm: “Quá trình này bắt đầu diễn ra ngay từ thời kỳ sơ khai, khi con người bắt đầu chuyền từ giai đoạn săn bắt — hái lượm sang hoạt động trồng trọt, chăn nuôi” (Brian Robert, 2006) [38]. Tác giả Brian Berry có cho rang “sé chăng thật là khôn ngoan cho lắm khi cố gắng tóm lược một cách chung nhất quá trình đô thị hóa bằng cách này hay cách khác” [36].
Tuy nhiên, cũng đã có rất nhiều khái niệm về đô thị hóa được các nhà nghiên cứu diễn giải ra trên quan điểm riêng của mình. Với Brian Berry, “Đô thị hóa có 2 mặt ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất liên quan đến quá trình tập trung dân cư - khi dân số chuyền cư từ vùng thưa dân đến vùng đông dân hơn; ý nghĩa thứ 2 liên quan đến văn hóa và lối sống của người dân - lối sông thành thị, văn hóa hiện đại và dấu hiệu của sự văn minh, bắt nguồn từ các thành phố lớn rồi lan tỏa ra các đô thị nhỏ hơn hay thậm chí là vùng nông thôn” [371. Theo Berd Hamm, khái niệm đô thị hóa được dùng theo ba nghĩa khác nhau: “1, Sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân ở đô thị so với toàn bộ dân cư ở một nước hay một lục địa; 2. Sự tăng trưởng về dan cư và/ hoặc diện tích của từng thành phó riêng; và 3.
Sự mở rộng văn hóa và lỗi sống thành thị. Đô 15 thị hóa theo Bernd Hamm gan liền với sự thay đổi văn hóa, lối sống, và phát triển mật độ dân cư hơn là sự chuyền dịch cơ cấu kinh tế, trong khi đô thị hóa và chuyên dịch cơ cấu kinh tế lại là “hai quá trình diễn ra song song, không tách biệt nhau”[20]. “Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội — văn hóa — không gian găn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề nghiệp mới, sự chuyên dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sông văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tô chức bộ máy hành chính và quân sự”. Theo quan điểm trên của Đàm Trung Phường, thì quá trình DTH cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: khoa học công nghệ, lối sông, mở rộng không gian đô thị, cơ cấu lao động.
Tuy nhiên Đàm Trung Phường đã không nói rõ sự chuyền đổi ấy diễn ra theo chiều hướng như thế nào một cách cụ thé, có thé gây ra những nhằm lẫn cho người đọc. Tác giả Trần Cao Sơn có đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về đô thị hóa như sau: "Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyền dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, với các đặc trưng sau: Một là, hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tang ky thuat hién dai, dan đến chuyền dich cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Hai là, tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơ cầu giai cấp, phân tầng xã hội. Ba là, chuyển từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa) sang sống tập trung (mật độ dân cư rất cao) Bồn là, chuyên từ lỗi sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xã sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp"[24] Trong các định nghĩa đã đề cập đến thì có thé nói định nghĩa trên đưa ra một cái nhìn tổng quát nhất và khá đầy đủ về các mặt của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, bao gồm phát triển dân số, mở rộng không gian đô thị, nâng cao lối sống văn minh, hiện đại.
"Đô thị hóa đã làm thay đổi mọi mặt đời sống của con người, từ lối sông, thu nhập, nghề nghiệp cấu trúc xã hội, đến mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các hộ gia đình, các tô chức, và các cơ quan chính quyén"[38]. Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế-xã hội Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyên nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn. Trong nền kinh tế hiện đại, CNH-HĐH và đô thị hóacó sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc day sự phát triển kinh tế - xã hội.[28] Trong quá trình CNH-HDH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản, đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp. Hiện tượng đô thị hóa được xem như là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đôi xã hội trong thời đại hiện nay.
Cùng với quá trình đô thị hóa , CNH được xem như một khía cạnh quan trong của sự vận động di lên của xã hội. Đô thị hóa là một quá trình lich sử trong đó nồi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng vao vai trò của trong sự phat triển mọi mặt của xã hội. Quá trình nay bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cau nghề nghiệp — xã hội, kết cau dân số, trong lỗi sống, văn hóa. Cụ thê hơn, quá trình đô thị hóa tạo điều kiện thúc đây sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn; tạo tiền đề và trở thành thị trường lớn cho khu vực công nghiệp, đặc biệt là dịch vụ.
Nó kích thích cầu và mở đường cho cung ứng; - Sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, miền, ngành kinh tế được thể hiện nhờ quá trình đô thị hóa cũng là quá trình thị trường hóa; - Đô thị hóacũng kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tô chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng. Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện — đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hóa; - Về mặt văn hóa, làn sóng đô thị hóa cùng với sự phát triển hạ tang văn hóa xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền.đã làm cho điện mạo nông thôn và đời sống tinh than của cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu tố văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hình văn học, nghệ thuật có giá tri, sự du nhập lối sống, phong cách giao 17 tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ.làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới. Mức sống văn hóa, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dân các vùng đô thị hóa, nhìn trên tổng thể, được nâng lên.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sự gia tăng nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên, trong đó có nguồn tài nguyên nước sạch; gia tăng mức độ ô nhiễm các chat thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn; sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường. Đặc biệt, tiến trình DTH được đây mạnh đồng nghĩa với việc này sinh mâu thuẫn gay gắt giữa van đề bảo vệ diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng đô thịvà vấn đề bảo vệ diện tích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp. Công nghiệp hóa, đô thị phát triển mạnh cũng đồng nghĩa với quá trình mất đất nông nghiệp gia tăng và một bộ phận người dân bị thu hồi đất bị rơi vào tinh trạng dé bị tổn thương. Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần day Quá trình đô thi hóa nông thôn ở Việt Nam trong những năm gan đây diễn ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trên cả nước.
DTH ở Việt Nam phat triển từ năm 1990, lúc đó cả nước có khoảng 520 đô thị (ty lệ đô thi hóa vào khoảng 17-18%); đến ngày 01/1/1999 (theo cuộc tông điều tra dan số cả nước) đã có 624 đô thị với số dân 17,92 triệu người, chiếm 23,5% tong số dân. Đến năm 2000 số đô thị là 649, và năm 2003 đã tăng lên 656 đô thị. Kết quả tổng điều tra dân số lao động của Tổng cục thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy, cả nước đã có trên 800 đô thị với dân số 25.374,262 người, chiếm 29,5% tổng số dân. Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị khoảng trên 45 triệu dan.[2] Hiện nay, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 44 thành phó trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị tran.