Chương 1: Tổng quan lý thuyết + Chương 2: Chế tạo mẫu và nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ thiêu kết đến cấu trúc, vi cấu trúc của hệ gốm (K,Na,Li)(Sb,Nb)O3-(Bi,Na,K)ZrO3. + Chương 3: Nghiên cứu các tính chất điện môi, sắt điện và áp điện của hệ gốm. Mặc dù có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, nhưng do hạn chế về thời gian và năng lực của bản thân nên trong bản luận văn này sẽ không tránh khỏi sai sót. Vì vậy, kính mong quý thầy cô giáo và bạn đọc quan tâm góp ý để bản luận văn được hoàn chỉnh hơn.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Lý thuyết sắt điện 1. Hiệu ứng sắt điện Trong 32 lớp đối xứng tồn tại trong thế giới tinh thể, có 20 lớp không có tâm đối xứng và có tính chất áp điện. Trong 20 lớp này có 10 lớp chỉ có một phương trục duy nhất sẽ có tính hoả điện.
Bản thân sắt điện là một tinh thể có cực tức hoả điện, nó là phân nhóm của 10 nhóm hỏa điện nhưng có tính chất đặc biệt hơn là chiều phân cực có thể thay đổi dưới tác dụng của điện trường. Như vậy có thể nói rằng sắt điện là các chất rắn có cấu trúc tinh thể mà khi không có điện trường ngoài vẫn tồn tại phân cực tự phát (hoả điện) và chiều của phân cực tự phát có thể thay đổi bởi điện trường ngoài. Trạng thái sắt điện chỉ tồn tại dưới một nhiệt độ tới hạn Tc nào đó (nhiệt độ Curie) [1]. Đường trễ sắt điện 1.
Đường trễ sắt điện trong tinh thể sắt điện đơn đômen (tinh thể không bền vững) Quá trình chuyển phân cực của chất sắt điện hay còn gọi là chu trình trễ điện môi xuất hiện trong mối phụ thuộc đặc biệt của phân cực P vào cường độ điện trường ngoài E được áp đặt dọc theo trục sắt điện [8].1 là đường trễ điển hình của một tinh thể sắt điện lý tưởng chỉ có một đômen. Khi E = 0, phân cực tự phát được biểu diễn bằng đoạn OA (do trong tinh thể vẫn tồn tại phân cực tự phát Ps ≠ 0). Khi tăng E, phân cực tự phát bị thay đổi, lúc đầu tăng tuyến tính do phân cực cảm ứng (điện môi thường), nếu tiếp tục tăng E, phân cực sẽ đạt giá trị bão hoà tại B. Khi E giảm về không, lúc đó phân cực tự phát sẽ không bị thay đổi.
Nếu thay đổi dấu và tăng cường độ điện trường E, tại một giá trị tới hạn của điện trường gọi là trường điện kháng Ec thì đường cong thế năng bị thay đổi thành đối xứng, các e 5 cation B dịch chuyển sang vị trí cân bằng mới cách các tâm của ô cơ sở một đoạn δ, các hướng của mômen lưỡng cực tự phát cũng bị thay đổi và xuất hiện quá trình phân cực lại. Khi tiếp tục tăng E rồi giảm E về không, độ lớn của phân cực tự phát không bị thay đổi |Ps| = |-Ps|. Nếu đảo dấu E một lần nữa và đạt đến giá trị điện trường kháng Ec, một lần nữa lại xuất hiện sự phân cực lại. Như vậy ta thu được một đường cong kín biểu diễn mối liên hệ của phân cực với cường độ điện trường ngoài: chu trình trễ điện môi.
Dạng của chu trình trễ này gần giống với hình chữ nhật. Từ chu trình trễ điện môi ta có thể xác định được phân cực bảo hoà Ps và trường điện kháng Ec. Đƣờng trễ sắt điện của tinh thể đơn đômen[8] 1. Đường trễ sắt điện trong tinh thể đa đômen[8] Như đã biết, nguyên nhân tạo thành cấu trúc đômen là thuần tuý về năng lượng.
Việc phân chia thành các đômen nói chung là thuận lợi về năng lượng vì khi đó điện trường và điện năng liên kết với nó giảm một cách đáng kể. Thực tế dạng đường cong điện trễ đối với các tinh thể sắt điện nhiều đômen khác với dạng đường cong điện trễ của tinh thể một đômen. Khi không có điện trường E, phân cực tự phát của sắt điện sẽ bằng không (do sự bù trừ phân cực có dấu khác nhau của đômen), nếu áp đặt E theo một hướng nào đó của trục sắt điện, khi E nhỏ (nhỏ hơn E2), do hiện tượng phân cực cảm ứng, P tăng e 6 tuyến tính theo E tăng tuyến tính theo E. Tiếp tục tăng E (lớn hơn E2) sẽ xuất hiện hiện tượng tái phân cực các đômen tức xuất hiện phân cực lưỡng cực (các đômen lưỡng cực cùng quay theo chiều của E).
Tiếp tục tăng E càng có nhiều đômen tham gia vào quá trình tái phân cực, khi đó sự phụ thuộc của phân cực vào E sẽ phi tuyến (độ cảm điện χ là một hàm của E). Tại một giá trị E nào đó, tất cả các đômen sẽ được tái phân cực theo hướng của E và đạt bão hoà. Khi giảm E đến không, đường cong P(E) không trùng với đường cong ban đầu do các đômen lưỡng cực không quay lại hết về vị trí ban đầu, do đó tồn tại phân cực dư Pd. Để giảm giá trị |P| (nhỏ hơn Pd) ta đặt một điện trường theo chiều ngược lại và tăng dần nhằm quay tiếp các mômen lưỡng cực.
Đến giá trị trường điện kháng Ec sự phân cực bị khử. Tiếp tục thay đổi E ta được một chu trình kín biểu diễn P(E) (hình 1. Từ việc khảo sát đường trễ của tinh thể sắt điện nhiều đômen, ta thấy để đạt được mẫu một đômen, cần áp đặt điện trường E theo hướng của trục sắt điện với cường độ đủ lớn và rất lớn hơn so với trường điện kháng Ec. Như vậy, điện trường ngoài ở đây chỉ có tác dụng định hướng lại các đômen chứ không tạo ra các mômen lưỡng cực điện như ở những điện môi không phải là sắt điện.
Đƣờng trễ sắt điện của tinh thể đa đômen [8] e 7 1. Phương pháp Sawyer-Tower xác định đường trễ sắt điện Năm 1933, C. Tower đã đưa ra sơ đồ mạch như hình 1.3 để khảo sát dạng đường trễ của các vật liệu sắt điện và thường được gọi là phương pháp Sawyer-Tower [9]. Đặc điểm của mạch này là: Cx<< Co; C1 << C2; U2 << U1; Ux>> Uo; U = Ux + Uo ≈ Ux.
Điện trường đặt lên mẫu được đưa vào trục X của dao động ký, điện tích cảm ứng lên mẫu qo = qx = q = CoUo được đưa vào trục Y của dao động ký. Thường điện áp đặt lên mẫu rất lớn nên không thể đưa trực tiếp vào dao động ký, bộ hai tụ C1, C2 dùng để phân áp, điện áp vào trục X chỉ là U2 (nhỏ hơn U). Thực tế điện tích cảm ứng q tác động lên trục Y tỷ lệ với Uo và chính điện áp Uo này đặt lên trục Y. Do Uo, U2 rất nhỏ so với U nên không ảnh hưởng đến dao động ký.
Như vậy độ lệch dọc (trục Y) biểu diễn sự thay đổi của qo hay vectơ phân cực P. Còn độ lệch ngang (trục X) biểu diễn sự thay đổi của U hay E. S S S là diện tích bề mặt mẫu Do D P, nên D và P đều tỷ lệ với Uo. Như vậy khi sử dụng điện áp xoay chiều (f nhỏ hơn hoặc bằng 60 Hz), trên dao động ký sẽ cho đường cong P(E) với E = U/ l (l là bề dày mẫu) Hình 1.
Sơ đồ mạch Sawyer – Tower [9] e 8 Để có thể điều chỉnh giá trị U2 hay Uo, người ta có thể mắc thêm biến trở Rv nối tiếp hay song song với một trong ba tụ điện Co, C1, C2. Khi điện trường thay đổi và mạnh dần rồi đổi chiều sẽ gây ra hiện tượng tái định hướng các lưỡng cực điện. Ở một số tinh thể, sự tái định hướng xảy ra rất nhanh, đường trễ có dạng “chữ nhật”. Nếu gốm cách điện không tốt, độ lệch thẳng đứng (theo trục Y) của dao động ký được gây nên do hai nguyên nhân: một phần do cảm ứng điện, một phần do dòng điện dẫn, đường trễ có dạng ellip, rộng hay hẹp do điện áp đặt vào lớn hay bé.
Với vật dẫn tuyến tính, đường P(E) luôn là đường thẳng. Hiệu ứng áp điện Hiệu ứng áp điện là hiệu ứng quan sát thấy ở một số loại vật liệu, thường ở dạng gốm hoặc đơn tinh thể, có khả năng tạo điện thế khi chịu tác động của một ứng suất cơ học nào đó. Hiệu ứng này được anh em Jacques và Pierre Curie phát hiện lần đầu tiên vào năm 1880. Theo đó, hiệu điện thế đo được tỉ lệ thuận với lực tác dụng và có thể nhận giá trị âm hay dương tùy thuộc vào tác động nén hay kéo giãn lên vật liệu đó.
Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng áp điện thuận. Một năm sau, hiệu ứng áp điện nghịch được Gabriel Lippmann ghi nhận khi ông đặt vật liệu áp điện vào trong một điện trường để tạo điện thế thì kích thước của vật liệu đó sẽ được kéo dài ra hay co ngắn lại tùy thuộc vào chiều của điện trường. Sang thế kỉ 20, người ta đã xác định được trong 32 lớp tinh thể thì có tới 20 lớp tinh thể được xác định là có khả năng tạo hiệu ứng áp điện. Tất cả các loại tinh thể này đều là hệ tinh thể không có tâm đối xứng.
Cũng cần phải nói thêm rằng điều kiện cần để một vật liệu sở hữu một hiệu ứng thuộc tính tenxơ giống như hiệu ứng áp điện là cấu trúc tinh thể của nó phải không có tâm đối xứng [10]. Vật liệu áp điện Hiện tượng áp điện được phát hiện lần đầu tiên trong các tinh thể có sẵn e 9 trong tự nhiên như thạch anh và tuamalin nhưng cho đến ngày nay, ngày càng có nhiều tinh thể và gốm nhân tạo thể hiện tính chất áp điện. Hiệu ứng áp điện được sử dụng lần đầu tiên trong các thiết bị siêu âm, với các tinh thể tự nhiên được sử dụng làm vật liệu áp điện, cụ thể là tinh thể thạch anh mỏng đã được dùng làm bộ biến đổi cơ sang điện ở trong các máy siêu âm phát hiện tàu ngầm trong chiến tranh thế giới thứ I. Thành tựu này đã thúc đẩy sự quan tâm đến vật liệu áp điện và gợi mở nhiều khả năng ứng dụng của chúng.
Gốm áp điện đã được tổng hợp với các phẩm chất ưu việt thay thế dần các đơn tinh thể tự nhiên trong các ứng dụng áp điện. Trong đó, các loại gốm có cấu trúc perovskit dần được sử dụng rộng rãi. Các gốm đa tinh thể này có nhiều đơn tinh thể con có cấu trúc tinh thể đồng hình với cấu trúc tinh thể của canxi titanat (hay còn được gọi là kiểu cấu trúc perovskit).