Mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chƣơng 1: Tổng quan.1 Tổng quan về độ bền công trình BTCT 1.2 Vai trò vết nứt ảnh hưởng tới độ bền của công trình BTCT 1.3 So sánh, kết luận và đưa ra hướng nghiên cứu cụ thể. Chƣơng 2: Các cơ chế hình thành và các biện pháp hạn chế vết nứt kết cấu bê tông 2.1 Các cơ chế hình thành vết nứt trong kết cấu BTCT.2 Các biện pháp hạn chế. Chƣơng 3: Ảnh hƣởng vết nứt tới hệ số khuếch tán ion clorua của kết cấu bê tông 3.1 Nghiên cứu thực nghiệm 3.2 Đề xuất mô hình lý thuyết 3 Chƣơng 4: Ví dụ tính toán ảnh hƣởng của vết nứt tới tuổi thọ của dầm BTCT 4.1 Mô tả ví dụ tính toán 4.2 Tính toán tuổi thọ dầm BTCT không nứt 4.3 Tính toán tuổi thọ dầm BTCT chịu nứt 4.4 So sánh và thảo luận Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
Tổng quan về độ bền công trình BTCT 1. Các khái niệm về độ bền 1. Các khái niệm về độ bền ở Việt Nam Viện sĩ. Bạch Đình Thiên và TS.
Trần Ngọc Tính xuất bản cuốn sách ― Công nghệ bê tông‖ năm 2004 [10]. Đã đề cập đến độ bền của bê tông như sau: Chất lượng của bê tông và sự làm việc của nó trong kết cấu và công trình được xác định bằng các tính chất của chúng. Tính chất quan trọng nhất của vật liệu là độ bền. Độ bền được gọi là khả năng chống lại sự phá hoại từ các tác dụng của nội ứng suất, xảy ra do kết quả của tải trọng hoặc các yếu tố khác.
Vật liệu nằm trong các công trình có thể chịu các nội ứng suất khác nhau: nén, kéo, uốn, cắt và xoắn. Bê tông là vật liệu chiụ nén tốt, chịu cắt kém và chịu kéo rất kém (khoảng 5-50 lần kém hơn khi nén). Vì vậy, các kết cấu xây dựng có thể được thiết kế sao cho bê tông trong chúng nhận các tải trọng nén. Khi cần thiết kế nhận các ứng suất kéo kết cấu cần có cốt.
Trong các kết cấu bê tông cốt thép ứng suất kéo và cắt do cốt thép chịu, chúng có sức bền cao đối với các loại ứng suất này. Vì vậy, một trong các tính chất quan trọng của bê tông là cường độ khi nén của chúng. Tuy nhiên có một số dạng riêng của kết cấu ( mặt đường, nền,.), trong đó bê tông cần nhận tải trọng kéo khi uốn. Trong trường hợp này, khi thiết kế các thành phần của bê tông xuất phát từ yêu cầu sự cần thiết nhận được cường độ định trước của bê tông khi uốn hoặc kéo.TS Phạm Duy Hữu và các công sự xuất bản cuốn sách ―Bê tông cường độ cao và chất lượng cao‖ năm 2008 [2].
Đã đề cập đến độ bền của bê tông như sau: Bê tông là vật liệu composit rất không đồng nhất mà độ bền của nó được hiểu là khả năng chống lại các tác động bên ngoài. Đặc biệt là phản ứng kiềm - cốt liệu, tính thấm nước, phản ứng cácbonát và thấm clo. Các khái niệm về độ bền trên thế giới M. Richardson ―Fundamentals of durable reinforced concrete‖ [13] đã đưa ra khái niệm độ bền của bê tông như sau: Độ bền được định nghĩa là khả năng để chống lại tác động thời tiết, tác nhân hóa học và ăn mòn trong khi vẫn duy trì các đặc tính kỹ thuật của nó mong muốn.
Nó thường dùng để chỉ thời gian làm việc hiệu quả của cấu kiện. Bê tông khác nhau đòi hỏi mức độ khác nhau về độ bền phụ thuộc vào môi trường tiếp xúc và đặc tính mong muốn. Theo ASTM E 632 [15] độ bền được định nghĩa là: Khả năng duy trì khả năng sử dụng của một sản phẩm, cấu kiện, bộ phận, lắp ráp, hoặc xây dựng trong thời gian xác định. Khả năng sử dụng được xem là khả năng của các cấu kiện để thực hiện chức năng mà chúng được thiết kế và xây dựng.
Shetty trong tài liệu ― Concrete Technology: Theory and Practice‖ xuất bản năm 2005 [12], đã đưa ra lý thuyết độ bền của bê tông như sau: Độ bền của bê tông được coi là khả năng làm việc bình thường của kết cấu bê tông, trong khoảng thời gian dài với yêu cầu ít hoặc không cần điều kiện bảo trì. Độ bền của bê tông xi măng được Viện bê tông Mỹ ACI 201.2R-01 định nghĩa là khả năng chống các tác động của thời tiết, xâm nhập của hóa chất, mài mòn, hoặc bất cứ quá trình nào khác của sự hư hại. Bê tông bền sẽ giữ được hình thức ban đầu của nó, duy trì được chất lượng và khả năng phục vụ khi tiếp xúc với môi trường xâm thực. Như vậy độ bền là một đại lượng đặc trưng cho tuổi thọ công trình.
Tuổi thọ của công trình được kéo dài hay không, phụ thuộc vào độ bền của kết cấu có được đảm bảo hay không. Tuy nhiên độ bền và tuổi thọ là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Trong luận văn này tuổi thọ của kết cấu BTCT phơi nhiễm clo được định nghĩa như sau: Tuổi thọ của kết cấu BTCT do xâm nhập ion clorua là thời gian bắt đầu tiếp xúc với môi trường ion clorua tới khi ion clorua gây ra ăn mòn cốt thép dẫn tới nứt lớp bê tông bảo vệ hoặc giảm diện tích cốt thép làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu tới mức nguy hiểm. Các yếu tố ảnh hƣởng đến độ bền 1.
Các yếu tố trong quá trình thiết kế Cấu trúc bê tông: Bê tông có cấu trúc đặc chắc, lỗ rỗng thấp sẽ giảm khả năng thấm của bê tông, từ đó làm tăng độ bền. hỗn hợp cứng b. hỗn hợp dẻo Hình 1.1 Cấu trúc của bê tông Hình 1.1 chỉ ra rằng, với cấu trúc bê tông đặc chắc (hình 1.1a) thì lỗ rỗng thấp hơn hẳn so với cấu trúc bê tông ở hình 1. Tỷ lệ nước/xi măng: Tỷ lệ nước/xi măng phải hợp lý, vì nếu quá cao sẽ gây ra hiện tượng phân tầng, làm giảm cường độ của bê tông.2 Quan hệ giữa cường độ bê tông và tỷ lệ N/X [2] Ghi chú: S1: Biểu đồ Suzuki 1.
7 Ha: Công thức Hatori. ACI: Đường biểu diễn trên theo tra bảng ACI. Nhận xét: Tỷ lệ nước/xi măng ảnh hưởng rất lớn đến cường độ của bê tông. Sự phụ thuộc của cường độ bê tông vào tỷ lệ N/X thực chất phụ thuộc vào thể tích lỗ rỗng tạo ra do lượng nước dư thừa.
Từ biểu đồ trên,ncó thể thấy cường độ của bê tông tăng lên khi tỷ lệ N/X giảm đi. Lớp bê tông bảo vệ: Lớp bê tông bảo vệ có tác dụng bảo vệ cốt thép khỏi ăn mòn, nó ngăn cản sự xâm nhập của các tác nhân gây hại như ion clorua từ môi trường bên ngoài. Sau đây là biểu đồ thể hiện sự ảnh hưởng của chiều dày lớp bê tông bảo vệ đếnquá trình ăn mòn cốt thép trong bê tông. Ghi chú: 5, 6, 7: ký hiệu các loại cốt thép có vị trí khác nhau.
a, b, c, d: ký hiệu các mặt của tiết diện bê tông.3 Bố trí cốt thép theo mặt cắt ngang mẫu bê tông [9] 8 Hình 1.4 Sự biến thiên dòng ăn mòn của các cốt thép 5, 6, 7 theo thời gian [9] Ta thấy dòng ăn mòn của các cốt thép là ổn định theo thời gian, điều này chứng tỏ các yếu tố của môi trường bê tông ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn cốt thép là ít thay đổi. Tốc độ ăn mòn cốt thép thay đổi theo chiều dày lớp bê tông. Cốt thép số 7 ở sát ngoài cùng có dòng ăn mòn trung bình khoảng 0,8 A / cm 2 , tương đương tốc độ ăn mòn khoảng 8 m / năm. Cốt thép số 5 có dòng ăn mòn bé nhất, chỉ tương ứng với 3 m / năm.
Như vậy, tốc độ ăn mòn cốt thép giảm khi chiều dày lớp bê tông bảo vệ tăng, hay nói cách khác chiều dày lớp bê tông bảo vệ có tác dụng ngăn cản quá trình ăn mòn cốt thép [9]. Các yếu tố trong quá trình thi công Vận chuyển: Việc vận chuyển bê tông tươi không được để dẫn tới các hiện tượng sau [3]: - Phân tầng. - Mất các vật liệu thành phần trong hỗn hợp bê tông. - Làm giảm đi tính công tác.
- Tăng đáng kể nhiệt độ hỗn hợp bê tông. Giới hạn thời gian vận chuyển hỗn hợp bê tông cần được quy định về thời gian ninh kết của xi măng và bê tông.5 Vận chuyển bê tông bằng xe chuyên dụng (nguồn internet) Như vậy, quá trình vận chuyển bê tông ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền của bê tông. Đổ bê tông: Bê tông cần phải được đổ sao cho giữ được tính đồng nhất, đầy hết ván khuôn, đảm bảo tính toàn khối, không xuất hiện vết nứt [3]. - Cần chú ý khi đổ bê tông sao cho không làm dịch chuyển các cốt thép ra khỏi vị trí đã quy định.
- Chiều cao đổ tự do của hỗ hợp không được cao hơn mức quy định. - Để đầm có hiệu quả thì chiều dày mỗi lớp đổ bê tông phải không được cao hơn mức quy định. - Cần phải có giải pháp đặc biệt khi đổ bê tông trong điều kiện thời tiết nóng để tránh bị mất nước nhanh. Biện pháp chủ yếu là giảm nhiệt độ bê tông và bảo dưỡng hợp lý.6 Hình ảnh đổ bê tông (nguồn internet) Đầm nén bê tông: Đầm nén bê tông để loại bỏ không khí ra khỏi bê tông.
Trong quá trình nhào trộn, vận chuyển, đổ khuôn bê tông, không khí sẽ cuốn vào 10 trong bê tông. Bê tông có tính công tác càng thấp thì lỗ rỗng cuốn khí vào càng nhiều, do đó cần công đầm nén nhiều hơn. Đầm nén cũng để đảm bảo độ đặc chắc và tính đồng nhất của bê tông. Thời gian đầm nén phải thích hợp vì thời gian đầm nén quá ngắn làm cho bê tông không đủ chặt, thời gian đầm nén quá dài sẽ gây ra phân tầng.7 Hình ảnh đầm cóc Hình 1.8 Hình ảnh đầm dùi (nguồn internet) (nguồn internet) Bảo dưỡng: Bảo dưỡng cần phải được tiến hành ngay sau khi đổ bê tông nhằm đảm bảo độ ẩm trong bê tông để bề mặt và chất lượng bê tông đạt được tiêu chuẩn thiết kế.
Thời gian bảo dưỡng phải đủ để bê tông đạt được cường độ yêu cầu. Việc bảo dưỡng bê tông cũng để làm tăng quá trình đóng rắn và độ bền, đồng thời cũng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của các vết nứt trong bê tông.9 Bảo dưỡng bê tông cột Hình 1.10 Bảo dưỡng bê tông sàn (nguồn internet) (nguồn internet) 11 1.