CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN DEN DE TAI 1. Các khái niệm liên quan 1. Biện pháp Theo tir dién Tiếng Việt: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề. Biện pháp là đưa ra những cách làm, cách giải quyết một vấn đề nào đó dé thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ của vấn đề đó đưa ra, nhưng đẻ thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ đó thì cần phải có những biện pháp phù hợp để giải quyết vấn đề cần giải quyết một cách có hiệu quả.
Nâng cao Nâng cao là đưa một cái gì đó đi lên mang ý nghĩa tích cực bằng cách học hỏi bạn bè, thấy cô và tất cả mọi thứ xung quanh dé trao dồi thêm những kiến thức, rút ra được những điều cần thiết cho bản thân từ đó nhằm thực hiện mục tiêu nâng kiến thức, kỹ năng hiện tại của mình lên cao hơn và giỏi hơn. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trongý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thẻ. Nhận thức là khả năng tiếp thu những kiến thức, kỹ năng của người học trong cuộc sống nhằm tích lũy kinh nghệm cho mình.
pháp nâng cao nhận thức Để thực hiện một cách tốt nhất các mục tiêu và nhiệm vụ thì cần phải có những biện pháp hữu hiệu, đề xuất tìm ra hướng đi đúng nhất, cách giải quyết công bằng từ đó những kiến thức, kỹ năng của người học được nâng cao hơn và nhận thức môi trường xung quanh được mở rộng hơn. Môi trường xung quanh Môi trường xung quanh là tất cả những gì bao quanh chúng ta như tự nhiên, con người, các đề vật. Khái niệm này có thể nhìn nhận theo hai nghĩa. Nghĩa rộng: MTXQ là tất cả sự vật, hiện tượng, con người có trong hành tỉnh mà chúng ta đang sống.
Nghĩa hẹp: MTXQ là những hoàn cảnh cụ thể ( các sự vật hiện tượng con người.) bao quanh một đối tượng có liên quan mật thiết với nó. MTXQ bao gém ca méi trường tự nhiên và xã hội, các môi trường có sự tác động qua lại lẫn nhau. Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước.
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp dé giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hẹp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thẻ,.
Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tao, bao gồm. tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghỉ trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.6, Thi nghiém Thí nghiệm là dùng thực hành mà thử một việc gì cho rõ: Thí nghiệm chương trình học mới.
Gây ra mét hién trong theo quy mô nhỏ để quan sát nhằm củng cố lý thuyết đã học hoặc kiểm nghiệm một điều mà giả thuyết đã dự đoán một cách có hệ thống và trên cơ sở lý luận. Thí nghiệm là một bước trong phương pháp khoa học dùng để phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết. Thí nghiệm cũng được sử dụng để tra tính chính xác của một lý thuyết hoặc mệt giả thuyết mới dé ủng hộ chúng hay bác bỏ chúng. Thí nghiệm hoặc kiểm nghiệm có thể được thực hiện bằng phương pháp khoa học để trả lời một câu hỏi hoặc khảo sát vấn đề.
Trước tiên đó là thực hiện quan sát. Sau đó đặt ra câu hỏi, hoặc nảy sinh vấn đề. Sau đó, giả thuyết được hình thành. Tiếp đến thí nghiệm được đưa ra đẻ kiểm tra giả thuyết.
Kết quả thí nghiệm được phân tích, rồi vạch ra kết luận, đôi khi mệt lý thuyết được hình thành từ kết quả thí nghiệm và các kết quả được công bế trên các tạp chí nghiên cứu. Thí nghiệm không phải là phương pháp duy nhất mà các nhà khoa học sử dụng để kiểm tra giả thuyết. Thí nghiệm thường dựa vào quan sát mà các điều kiện có thể được kiểm soát và điều chỉnh bởi người làm thí nghiệm nhằm loại bỏ các yếu tố không liên quan, thường thực hiện trong phòng thí nghiệm khoa học. "Thông tin về tự nhiên (bản chất) cũng được thu thập và kiểm tra giả thuyết trong các nghiên cứu quan sát ngoài thực tế, đó là những quan sát về các hiện tượng trong thiên nhiên, mà không bị kiểm soát bởi người làm thí nghiệm.
Tom lai: Thi nghiệm là sự tổ chức các hoạt động tạo ra tình huống và sự quan sát của người học để đi tới kết luận nhất định. Thí nghiệm về môi trường xung quanh Tất cả các hoạt động xung quanh chúng ta như: trong môi trường tự nhiên và môi trường xã hội được tổ chức cho trẻ đưới mọi hình thức tạo điều kiện cho trẻ tự trải nghiệm, khám phá thông qua những hoạt động thí nghiệm bằng cách tạo ra tình huống để cho trẻ quan sát và phán đoán nhằm nâng cao nhận thức và phát triển cho trẻ một cách toàn diện. * Biện pháp nâng cao nhận thức cho trẻ 5-6 tHÔi về môi trường xung quanh thông qua mội số thí nghiệm: là quá trình thực hiện mội cách tốt nhất các biện pháp đŠ nâng cao nhận thức, kỹ năng về môi trường xung quanh thông qua những hoại động thí nghiệm. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 5-6 tuỗi 1.
Cảm giác - tri giác Ở lứa tuổi MGL 5-6 tuổi cùng với sự hoàn thiện của các giác quan thì hoạt. động cảm nhận của trẻ tiếp tục được hoàn thiện, độ nhạy cảm của các giác quan được nâng cao, việc phân tích các thuộc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh hiệu quả hơn trước. Hệ thống tín hiệu thứ hai tham gia tích cực hơn vào quá trình phân tích làm cho cảm giác trở nên chính xác, cụ thể hơn và đồng thời lam cho cảm giác có tính “tự giác”. Cùng với cảm giác, tri giác của trẻ cũng phát triển mạnh.
Chính độ nhạy cảm cao của các giác quan, cũng như sự phối hợp hoạt động hài hòa, linh hoạt, mềm đẻo của chúng giúp cho các quá trình nhận thức của trẻ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Trẻ MG 5-6 tuổi rất ham học hỏi, tìm tòi, thích quan sát, tìm hiểu thế giới xung quanh và đặc biệt hứng thú với việc khám phá những điều mới lạ. Khi phạm vi tiếp xúc với thế giới xung quanh ngày càng được mở rộng thì vến hiểu biết của trẻ càng được phong phú và sâu sắc hơn dan tới nhu cầu nhận thức ngày càng cao hơn. Trẻ MG 5-6 tuổi không thỏa mãn với những hiểu bi về bên ngoài của các sự vật hiện trong xung quanh mà chúng bắt đầu muốn khám phá, muốn tìm kiếm những dấu hiệu, bản chất bên trong và mối liên hệ của các sự vật hiện tượng.
Nên nhờ đó, nhận thức của trẻ được kích thích, phát triển. Ở lứa tuổi MG, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế và đặc điểm này còn kéo đài tới tuổi MG lớn. Trẻ thường chú ý đến những đối tượng khi đối tượng đó gây ra một kích thích mạnh, hoặc một sự ngạc nhiên, nhất là tạo cho trẻ một sự hứng thú. Tuy nhiên, đến giữa tuổi MG, cùng với sự phát triển của tính chủ định và ý thức thì khả năng chú ý của trẻ đã có sự thay đổi cơ bản: trẻ bắt đầu điều khiển chú ý của mình vào những đối tượng nhất định, tức chú ý có chủ định dần hình thành và phát triển mạnh.Đaparôjet: “Khả năng chú ý đó ở trẻ 5-6 tổi có thể kéo đài từ 35-50 phút nêu đối tượng đó hấp dẫn, có nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ”.
Chú ý có chủ định được phát triển trong quá trình giáo dục. Nó được hình thành và phát triển mạnh với những loại kích thích mới, một trong số đó là kích thích bởi ngôn ngữ nói tác động từ bên ngoài. Trẻ MG 5-6 tuổi đặc biệt nhạy cảm với ngôn ngữ nói. Trẻ hướng sự chú ý của mình tới những đặc điểm của lời nói như giọng điệu, ngữ điệu, cách phát âm.
Giọng điệu có ý nghĩa kích thích sự chúý ở độ chính xác, tỉ mi. Trẻ nhận ra được thái độ, tình cảm (thiện cảm, thân thương, trìu mến hay thờ ơ, lạnh lùng, bực bội.) của người lớn, bạn bè xung quanh. Một biểu hiện phat triển mới nữa là trẻ có thể phân phối sự chú ý của mình ở nhiều đối tượng cùng lúc đừ 2-5 đối tượng). Tuy nhiên, khả năng phân phối sự chú ý này chưa bền vững, dé dao động, đặc biệt là trong những hoạt động quan sát qua tranh ảnh, mô hình.
Chú ý là một đặc điểm tâm lý vô cùng quan trọng đối với hoạt động trí tuệ của trẻ. “Không chú ý vào một việc gì có chủ định hoặc không điều khiển được chú ý thì kết quả nhận thức sẽ hết sức hạn chế. Vì vậy, khi tổ chức hoạt động trí tuệ cho trẻ, trước hết cần giáo dục năng lực điều khiển chú ý, năng lực chú ý có chủ định bền vững". Cuối trổi MG, việc rèn luyện chú ý có chủ định giúp trẻ chúý vào những vấn đẻ trẻ không thật sự hứng thú sẽ rất cần thiết cho sự tiếp thu kiến thức của trẻ.