CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIẾN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SỐ HỌC THEO HƯỚNG CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỄN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VAN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP2 1. Cơ sở lý luận của dạy học chủ dé Số học theo hướng chú trong phát triển năng lực giải quyết vẫn để cho học sinh lớp 2 1. Khái niệm năng lực Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau do sự lựa chọn đấu hiệu khác nhau: Tohn Erpenbeck cho rằng: “NL được xây đựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cầu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. 'Weinert đưa ra một định nghĩa thực tiễn hơn, năng lực chỉ đến sự kết hợp của những kỹ năng xã hội, đạo đức, động cơ và năng lực nhận thức mà người học sở hữu (hoặc có thể học hỏi được),.giúp người học làm chủ được kiến thức bằng cách tìm hiểu và thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, để đạt được muc tiêu học tập.
Tổ chức OPECD cho rằng: NL không chỉ là việc miêu tả một nhiệm vụ hoặc hành động học tập, nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của người học và đo lường kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện một nhiệm vụ học tập tới một chuẩn nào đó. NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bồi cảnh cụ thể (2002) Theo Nguyễn Công Khanh: NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nói) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Theo Lê Đức Ngọc thì NL là khả năng vận dụng đồng bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đã tích lũy được để ứng xử, xử lý tình huống hay để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả. (2014) Theo một số tác giả khác, NL là tổ hợp các hoạt động trên cơ sở sử dụng và huy động hiệu quả kiến thức và kỹ năng từ nhiều nguồn khác nhau để giải quyết thành công các vấn đề điễn ra trong cuốc sống hoặc có cách ứng sử phù hợp trong bối cảnh thực.
Dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung các quan niệm về NL đều giống nhau ở một điểm là khi nói tới NL là nói tới kiến thức, kỹ năng và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năng đó để giải quyết thành công các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Một người xem là có năng lực về một lĩnh vực phải là người có khả năng giải quyết thành công các vấn đề trong cuộc sống thuộc lĩnh vực đang nói tới. Các đặc điểm của năng lực - NL chỉ có thể quan sát được qua hoạt động của cá nhân ở các tình huống nhất định. - NL tên ¡ dưới hai hình thức: NL chung và NL chuyên biệt.
NL chung là những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. NL này cần thiết cho tất cả mọi người. NL chuyên biệt là năng lực chỉ cần thiết với một số người hoặc cần thiết ở một số tình huống nhất định. Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế được các năng lực chung.
- NL được hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trường. Nhà trường được coi là môi trường chính thức giúp học sinh có được những năng lực cẩn thiết nhưng đó không phải là nơi duy nhất. Những bối cảnh không gian không chính thức như: gia đình, cộng đồng, phương tiện thông tin, tôn giáo và môi trường văn hóa,. góp phần bỗ sung và hoàn thiện năng lực cá nhân.
- NL và các thành phần của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ sơ đẳng, thụ động tới năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân. - NL được hình thành và phát triển liên tục trong suốt một đời con người vì sự phát triển năng lực thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động cá nhân chứ không đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng lẻ. Do đó/NL có thể bị yếu hoặc mất đi nếu chúng ta không rèn luyện tích cực và thường xuyên. - Các thành tố của NL thường đa dạng vì chúng được quyết định tùy theo yêu cầu kinh tế xã hội và đặc điểm quốc gia, dân tộc, địa phương.
NL của học sinh ở quốc gia này có thể hoàn toàn khác với một học sinh ở quốc gia khác. Các đụng năng lực trong đạy học môn Toán ở tiỂu học 1.1, Năng lực chúng và năng lực đặc thải Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cót lõi. làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Tại Hội thảo Những nội dung chính của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới, (12-13/4/2015) đã xác định 8 năng lực chung,đó là: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ và giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thẩm mĩ và năng lực thể chất.
Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, mỗi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như 'Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao. Năng lực chung và năng lực đặc thù đều được hình thành và phát triển thông qua các môn học, hoạt động giáo đục; năng lực đặc thù vừa là mục tiêu vừa là “đơn vị thao tác” trong các hoạt động dạy học, giáo dục; góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung. Măng lực toán học cân hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học Theo V.
Cruchetxki: “Những năng lực toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm của hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động học tập toán, và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ đàng, sâu sắc những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực Toán học”. Theo Đỗ Tiến Đạt và nhóm nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2012), có nhiều cách liệt kê năng lực được hình thành và phát triển qua học tập toán do xuất phát từ những góc độ khác nhau. Đồng quan điểm trên, chúng tôi xác định những năng lực đặc thù của môn Toán, đó là: - Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghỉ nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa, Khái quát hóa, tưởng tượng, suy luận- giải quyết vấn đề, xử lý và linh cảm trong quá trình phản ánh, phát triển trỉ thức và vận dụng chúng vào thực tiễn. Năng lực tư duy của học sinh tiểu học trong quá trình học toán thể hiện qua các thao tác chủ yếu như: phân tích và tổng hợp, so sánh và tương tự, đặc biệt hóa và khái quát hóa,.
bước đầu chúý đến năng lực tư duy logic trong suy luận; các năng lực tư duy phê phán và sáng tạo, cũng như các yếu tố dự đoán, tìm tồi kể cả trực giác toán học và tưởng tượng không gian. - Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết tình huống có ván đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. Đây là một trong những năng lực mà môn Toán có nhiều thuận lợi dé phát triển cho người học qua việc tiếp nhận khái niệm, quy tắc toán học và đặc biệt là qua giải toán. - Năng lực mô hình hóa hay còn gọi là năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn là khả năng chuyển hóa một vấn đề thực tế sang một vấn đề toán học bằng cách thiết lập và giải quyết các mô hình toán học, thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế.
- Năng lực giao tiếp toán học là khả năng sử dụng các đạng ngôn ngữ nói,viết, và biểu điễn toán học để làm thuyết trình và giải thích làm sáng tỏ vấn đề toán học. Năng lực giao tiếp liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ toán học (chữ, kí hiệu, biểu đỏ, các liên kết logic.) kết hợp với ngôn ngữ thông thường. Năng lực này được thể hiện qua việc các văn bản toán học, đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi, lập luận khi giải toán. - Năng lực sử dụng các công cụ phương tiện học toán (bao gồm các phương tiện thông thường và bước đầu làm quen với sử dụng công nghệ thông tin).4 Năng lực giải quyết vẫn a 3.
Vần đề Để hiểu đúng thế nào là ván đề và đồng thời làm rõ một vài khái niệm có liên quan, ta bắt đầu từ khái niệm tình huống. Một tình huống được biểu hiện là một tập hợp bao gồm chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể là người, còn khách thể là một tập hợp các đối tượng nào đó. Một vấn đề được hiểu đó là một câu hỏi, một bài toán mà chủ thể cần phải giải quyết nhưng chưa có ngay được câu trả lời hay cách giải. Nói cách khác, câu hỏi, bài toán, vấn đề là những khái niệm có liên hệ mật thiết với nhau và đều phản ánh những mâu thuẫn cần giải quyết để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống.2, Khải niệm năng lực giải quyết vẫn dé NLGQVP là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề Khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng.
Nó bao gồm sự sẵng sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó - thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng. ®Định nghĩa trong đánh giá PISA 2012) Giải quyết vấn đề Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân.