Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM ÁP DỤNG TRONG CÁC TỔ CHỨC CÔNG 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG CÁC TỔ CHỨC CÔNG 1. Lịch sử hình thành phát triển của Bảng cân bằng điểm Vào năm 1990, Tiến sĩ Robert S. Kaplan – giáo sư chuyên ngành kế toán quản trị tại Trường Đại học Harvart và cộng sự của mình là Tiến sĩ David P.
Norton – chuyên gia tư vấn thuộc vùng Boston về Bảng cân bằng điểm đã tiến hành khảo sát 12 công ty Mỹ nhằm tìm kiếm một phương pháp mới để đo lường thành quả hoạt động của các doanh nghiệp. Nhóm nghiên cứu đã thảo luận nhiều giải pháp và cuối cùng Bảng cân bằng điểm đã được lựa chọn. Bảng cân bằng điểm lần đầu tiên được giới thiệu trong bài viết“The BSC – Measures that drive performance” (Tạm dịch: Bảng cân bằng điểm – Các thước đo thúc đẩy thành quả hoạt động) trên tạp chí Harvard Business Review số tháng 1 & 2 năm 1992 (Kaplan and Norton, 1996). Việc phát triển Bảng cân bằng điểm từ một hệ thống đo lường thành quả hoạt động thành một hệ thống quản trị chiến lược được thể hiện trong hai bài báo đăng trên tạp chí Harvard Business Review vào năm 1993 (số tháng 9 & 10) và năm 1996 (số tháng 1 & 2) đó là: “Putting the BSC to word” (tạm dịch: Áp dụng Bảng cân bằng điểm trong thực tiễn) và “Using the BSC as a Strategic Managemant system” (tạm dịch: Sử dụng Bảng cân bằng điểm như một hệ thống quản trị chiến lược (Kaplan and Norton, 1996).
Tiếp nối hai nghiên cứu này, Kaplan và Norton đã cho xuất bản cuốn sách “The BSC – Translating strategy into action” (tạm dịch: Bảng cân bằng điểm – Biến chiến lược thành hành động”. Đây là cuốn sách tổng hợp kết quả rút ra từ các nghiên cứu và các trải nghiệm liên quan đến Bảng cân bằng điểm. Sau quá trình nghiên cứu nhiều công ty áp dụng Bảng cân bằng điểm, Kaplan và Norton ngày càng nhận ra rằng để có thể triển khai được chiến lược một cách hiệu quả trong toàn bộ tổ chức, chiến lược phải được cụ thể hóa thành một chuỗi các mục -8- tiêu, các mục tiêu này được liên kết với nhau bằng mối quan hệ nhân quả. Mối quan hệ này được Kaplan và Norton gọi là Bản đồ chiến lược trong bài báo “Having trouble with strategy? Then map it?, 2001 (tạm dịch: Có vấn đề với chiến lược? Hãy vẽ nó ra) (Kaplan and Norton, 2003).
Bản đồ chiến lược sẽ giúp cho toàn bộ nhân viên trong tổ chức hiểu rõ công việc của họ đóng góp vào mục tiêu chung như thế nào, tạo động lực để nhân viên phối hợp làm việc với nhau, cùng hướng đến mục tiêu chung. Kể từ đó, Bảng cân bằng điểm có ảnh hưởng sâu rộng và được áp dụng thành công ở nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau, các tổ chức giáo dục, tổ chức y tế, tổ chức phi lợi nhuận tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bảng cân bằng điểm đã được hơn một nửa các doanh nghiệp trong danh sách Fortune 1000 ứng dụng kể từ năm 1996 và được chấp nhận rộng rãi và hiệu quả tới mức mới đây được tạp chí Harvard Business Review xếp vào một trong 75 ý tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 (Niven, 2006). Sự cần thiết phải áp dụng Bảng cân bằng điểm trong các tổ chức công Bản đồ chiến lược và Bảng cân bằng điểm được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức lợi nhuận.
Các tổ chức công cũng cần phải có hệ thống quản lý chiến lược và hệ thống đo lường để truyền đạt và thực hiện các chiến lược của họ. Bởi lẽ, thiếu thông tin về thành quả hoạt động sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực tài chính và nhân lực của các tổ chức này trở nên kém hiệu quả. Thực tế cho thấy các tổ chức công có quy mô lớn thường nhận được tài trợ năm này qua năm khác bất kể họ hoạt động có hiệu quả hay không. Trong khi, những tổ chức công có quy mô nhỏ, hoạt động hiệu quả thì lại thiếu kinh phí để duy trì và mở rộng quy mô.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng phân bổ nguồn lực kém hiệu quả này được xác định là vì các nhà cung cấp nguồn lực – nhà tài trợ, các cơ quan quản lý – hầu như không có thông tin để đánh giá thành quả hoạt động của các tổ chức mà họ tài trợ. Trước khi có Bảng cân bằng điểm, báo cáo hoạt động của các tổ chức công cũng chỉ tập trung vào các thước đo tài chính. Tuy nhiên, các tổ chức này không thể đánh giá được thành quả hoạt động của họ bằng các thước đo tài chính. Tất nhiên, họ phải theo dõi các khoản chi tiêu và hoạt động trong nguồn tài chính hạn chế, nhưng thành công của họ phải được đo lường bằng hiệu quả của họ trong việc -9- cung cấp lợi ích cho các bên liên quan, chứ không phải bởi khả năng của họ để quyên tiền có hiệu quả hoặc cân bằng ngân sách.
Việc sử dụng các thước đo phi tài chính trong Bảng điểm cân bằng sẽ cho phép các tổ chức công có thể đánh giá thành quả của họ với các bên liên quan (Kaplan et al, 2012). GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CÔNG VÀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC PHI LỢI NHUẬN 1. Khái quát về tổ chức công Từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế – xã hội đã được chia thành hai khu vực: khu vực công và khu vực tư nhân. Khu vực công phản ánh hoạt động kinh tế, chính trị được tiến hành bởi nhà nước.
Sự khác biệt cơ bản giữa khu vực công và khu vực tư nhân là hoàn toàn dựa vào tính chất sở hữu và quyền lực chính trị (Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài, 2009). Như vậy, có thể hiểu các tổ chức công là một cụm từ dùng để chỉ cho một tập hợp các cơ quan quản lý của một quốc gia, các đơn vị và doanh nghiệp thuộc sở hữu và quản lý của nhà nước, trong đó có cả các tổ chức giáo dục công. Các tổ chức này được xem là một bộ phận hay thành phần quan trọng, không thể thiếu của nền kinh tế một vùng, lãnh thổ hay bất kỳ quốc gia nào và đóng vai trò cơ bản như cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ công đến mọi miền của cả nước, đảm bảo và duy trì nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước được thực thi một cách hiệu quả. Đồng thời hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh doanh được hoạt động bình thường, tạo công ăn việc làm, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa và sức khỏe của người dân.
Các tổ chức công của một quốc gia có thể được phân chia như sau: Hệ thống các cơ quan công quyền: (1) Hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước (lập pháp, tư pháp, hành pháp từ trung ương đến địa phương); (2) Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh; (3) Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công (giáo dục, y tế, giao thông vận tải,…); (4) Hệ thống cơ quan cung cấp an sinh xã hội. Hệ thống các đơn vị kinh tế của nhà nước: (1) Các doanh nghiệp nhà nước (phi tài chính); (2) Các định chế tài chính; (3) Ngân hàng trung ương; (4) Các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động. Khái quát về tổ chức giáo dục đại học phi lợi nhuận Chúng ta đều biết rằng các trường đại học công lập đều hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Thế còn các trường đại học ngoài công lập thì sao? Khái niệm “đại học phi lợi nhuận” đã được nhắc đến nhiều trong hơn 20 năm trở lại đây – kể từ khi trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam đầu tiên ra đời vào năm 1989.
Nhưng mãi đến năm 2012 khi Luật Giáo dục đại học ra đời, khái niệm “phi lợi nhuận” mới được xác định rõ ràng. 7 điều 4 của Luật giáo dục đại học 2012 giải thích rằng” Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vấn đầu tư nước hoạt động không lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hàng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học, các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hàng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên, cách giải thích này vẫn chưa giải quyết được điểm mấu chốt liên quan đến quyền sở hữu và cấp phép kinh doanh tạo lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Ở Mỹ, để được công nhận là một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận, các trường cần phải đạt được các yêu cầu về tổ chức, vận hành, sử dụng lợi nhuận, vận động hành lang, vận động chính trị, lợi ích công và chính sách công.
Chẳng hạn: - Về mặt tổ chức, các trường này phải được thành lập vì mục đích từ thiện, hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng, không vì lợi nhuận. - Về mặt vận hành, các trường này vẫn được phép tiến hành các hoạt động tạo lợi nhuận tuy nhiên những hoạt động này không phải là hoạt động chính của nhà trường và phải chịu thuế. - Về cách sử dụng lợi nhuận được coi là sự phân định cơ bản nhất giữa tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận. Các trường phi lợi nhuận hoạt động không vì mục đích làm giàu cho cá nhân, tài sản của trường phải được sử dụng cho mục đích từ thiện mãi mãi, thu nhập ròng không được phép chuyển lại cho chủ sở hữu hoặc chia cho cổ đông dưới hình thức cổ tức.
- Ngoài ra, các trường đại học phi lợi nhuận cũng hạn chế vận động hành lang, không tham gia các chiến dịch vận động tranh cử cho các đảng phái chính trị cũng như không làm ảnh hưởng đến chính sách công và lợi ích của số đông. TỔNG QUAN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM ÁP DỤNG CHO CÁC TỔ CHỨC CÔNG 1. Khái niệm và vai trò của Bảng cân bằng điểm 1. Khái niệm Bảng cân bằng điểm Bảng cân bằng điểm là một hệ thống nhằm chuyển hóa tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành các mục tiêu và thước đo nhằm đánh giá toàn diện hoạt động của một tổ chức trên bốn phương diện khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển, tài chính (Kaplan and Norton, 1996).1: Bảng cân bằng điểm áp dụng trong các tổ chức công (Nguồn: Niven, 2008, trang 32) 1.