Vốn Xã Hội Trong Chiến Lược Sinh Kế Của Các Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam

Nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Phân tích tác động và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

295
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Án Vốn Xã Hội Sinh Kế Nông Thôn 55

Luận án tập trung vào mối quan hệ giữa vốn xã hộichiến lược sinh kế của hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Sinh kế, đặc biệt ở nông thôn, là chủ đề trọng tâm trong kinh tế học vi mô. Cải thiện sinh kế và giảm nghèo đòi hỏi nghiên cứu sâu về chiến lược sinh kế. Luận án khám phá các phương thức hộ gia đình sử dụng nguồn lực và kỹ năng để đạt mục tiêu sinh kế và nâng cao đời sống. Điều này dẫn đến sự khác biệt trong việc lựa chọn các phương thức tạo thu nhập, hay chính là chiến lược sinh kế. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào khám phá các hình mẫu chiến lược sinh kế và sự thay đổi của chúng, mang lại nhiều hàm ý lý thuyết, thực tiễn và chính sách để thúc đẩy sinh kế ở nông thôn. Theo Chambers (1995), chiến lược sinh kế là trung tâm của các giải pháp cần được thảo luận sâu hơn. Chiến lược sinh kế của hộ gia đình mang đến hàm ý về các phương thức mà hộ thực hiện với các nguồn lực và kỹ năng khác nhau nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh kế và nâng cao cuộc sống của hộ (Ellis, 2000).

1.1. Tầm quan trọng của chiến lược sinh kế bền vững

Luận án đi sâu vào tìm hiểu sự khác biệt trong việc lựa chọn các phương thức khác nhau để kiến tạo thu nhập cho hộ. DFID(1999) xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững, trong đó, việc lựa chọn một phương thức kiến tạo thu nhập hay nói cách khác là chiến lược sinh kế của hộ là bước trung gian để theo đuổi mục tiêu sinh kế. Paul Winters và cộng sự (2001) trong khung phân tích sinh kế của mình đặt chiến lược sinh kế như là một chủ đề trọng tâm của hộ.

1.2. Dịch chuyển chiến lược sinh kế và các hàm ý

Từ những năm 2000 đặc biệt là giai đoạn gần đây, việc khám phá các hình mẫu chiến lược sinh kế của hộ trở thành một chủ đề nghiên cứu trọng tâm được nhiều nhà nghiên cứu tham gia, trong đó, sự thay đổi hay dịch chuyển chiến lược sinh kế mang đến nhiều hàm ý khác nhau không chỉ đóng góp vào lý thuyết mà còn hướng đến các hàm ý thực tiễn và chính sách trong mục tiêu thúc đẩy sinh kế của các hộ vùng nông thôn (Hua và cộng sự, 2017; Kelemen và cộng sự, 2008; Zhang và cộng sự, 2019).

II. Thách Thức Vốn Xã Hội Rủi Ro Sinh Kế Nông Thôn 57

Việc lựa chọn chiến lược sinh kế chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: tài sản sinh kế, đặc trưng kinh tế xã hội, bối cảnh kinh tế, điều kiện tiếp cận kỹ thuật và thị trường. Tài sản sinh kế (5 loại vốn theo DFID, 6 loại theo Winters) đóng vai trò quan trọng. Vốn xã hội, đặc biệt, nhận được sự quan tâm lớn, trở thành nguồn lực quan trọng để thúc đẩy sinh kế bền vững. Vốn xã hội đảm bảo niềm tin, nguyên tắc cộng đồng, giảm chi phí giao dịch (Portes, 1998). Luận án xem xét vai trò của vốn xã hội trong việc giảm thiểu rủi ro và biến động, đặc biệt là do biến đổi khí hậu và rủi ro tự nhiên-xã hội.

2.1. Vai trò của các loại tài sản sinh kế khác nhau

Đối với việc lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ, có rất nhiều yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ, các nhân tố ở cấp độ hộ như các loại tài sản sinh kế, các đặc trung kinh tế xã hội của hộ cũng như các yếu tố bối cảnh bên ngoài như bối cảnh kinh tế xã hội, điều kiện tiếp cận kỹ thuật, thị trường,…(DFID, 1999; Ellis, 1998). Các loại tài sản sinh kế (5 loại vốn sinh kế (tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và vốn xã hội) theo DFID (1999) hay 6 loại tài sản (vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất, các tài sản có giá trị) của 2 Winters và các cộng sự (2001)) được xem là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ.

2.2. Vốn xã hội Nguồn lực thiết yếu cho sinh kế bền vững

So với các vốn, tài sản khác thì vốn xã hội được nhấn mạnh trong lĩnh vực xã hội học và lan tỏa sang các ngành nghiên cứu xã hội khác trở thành một chủ đề nghiên cứu liên ngành. Vốn xã hội là một nhân tố quan trọng được quan tâm ngày càng nhiều trong nghiên cứu và được coi là một nguồn lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển sinh kế bền vững của mỗi hộ gia đình. Hơn thế nữa, vốn xã hội thay thế các định chế khác nhằm đảm bảo niềm tin, các nguyên tắc của cộng đồng và nhờ đó thúc đẩy xã hội phát triển, giảm các chi phí giao dịch (Portes, 1998).

2.3. Vốn xã hội và khả năng chống chịu rủi ro sinh kế

Vốn xã hội còn minh chứng vai trò quan trọng trong đảm bảo ổn định sinh kế, đặc biệt trước các biến động do ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, rủi ro tự nhiên-xã hội. Vốn xã hội có thể giảm nhẹ các ảnh hưởng xấu đến sinh kế, gia tăng phúc lợi và sinh kế hộ (Adams và cộng sự 1998; Thulstrup 2015; Quandt và cộng sự 2017; Quandt 2018), trong đó, một số nghiên cứu nhấn mạnh đến việc vốn xã hội giúp hỗ trợ hộ gia đình đa dạng hóa sinh kế (Marschke and Berkes 2006) hay đáp ứng trước các điều kiện môi trường cũng như hưởng được nhiều lợi ích từ việc nhận được trợ giúp (Li và cộng sự 2018; Liu và cộng sự 2019). Nói cách khác, vốn xã hội có thể hỗ trợ hộ gia đình củng cố hay điều chỉnh chiến lược sinh kế phù hợp trong các bối cảnh dễ tổn thương (W. Liu và cộng sự, 2020).

III. Cách Tiếp Cận Khung Lý Thuyết Về Chiến Lược Sinh Kế 60

Luận án tiếp cận vai trò của vốn xã hội trong chiến lược sinh kế từ nhiều khung lý thuyết sinh kế khác nhau. DFID nhấn mạnh vốn xã hội không chỉ là tài sản sinh kế mà còn là nhân tố quan trọng tạo cơ hội sinh kế và thúc đẩy các nguồn tài sản khác. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, chiến lược sinh kế (tĩnh và động) chịu ảnh hưởng từ các nhân tố sinh kế, trong đó vốn xã hội trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự chuyển đổi trong chiến lược sinh kế. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra mối liên kết giữa các loại hình vốn sinh kế, đặc biệt là giữa vốn xã hội và các loại vốn khác (Phan và cộng sự, 2019).

3.1. Vốn xã hội và tác động trực tiếp gián tiếp tới sinh kế

Các bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia khác nhau cho thấy, chiến lược sinh kế cả tĩnh và động của hộ đều chịu ảnh hưởng từ các nhân tố sinh kế, trong đó, vốn xã hội trở thành một động lực quan trọng trực tiếp hay gián tiếp thúc đẩy sự chuyển đổi trong chiến lược sinh kế của hộ (Hua và cộng sự, 2017; Kelemen và cộng sự, 2008; Zhang và cộng sự, 2019).

3.2. Mối liên kết giữa vốn xã hội và các loại vốn khác

Không chỉ vậy, các nghiên cứu gần đây cho thấy các ảnh hưởng cũng như các mối liên kết, tác động lẫn nhau giữa các loại hình vốn sinh kế, đặc biệt đối với mối liên hệ giữa vốn xã hội – vốn vô hình với các loại vốn sinh kế khác của hộ (Phan và cộng sự, 2019).

3.3. Ảnh hưởng tiêu cực của vốn xã hội các ràng buộc vô hình

Thêm vào đó, các nghiên cứu thực nghiệm khác cũng chỉ ra các ảnh hưởng tiêu cực của vốn xã hội trong việc ngăn cản các hành vi của cá nhân nói riêng và hộ nói chung thoát ra khỏi những khuôn mẫu – ràng buộc vô hình, điều này cản trở sự sáng tạo cũng như mức độ đáp ứng cho các hoạt động sinh kế mới, các hoạt động có mức sinh lợi cao hơn, rủi ro hơn hay mới hơn (Béné và cộng sự, 2016).

IV. Phân Tích Thực Trạng Chiến Lược Sinh Kế Hiện Tại 58

Luận án xem xét thực trạng chiến lược sinh kế tại nông thôn Việt Nam trong bối cảnh đô thị hóa và chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn. Tỷ lệ dân cư thành thị tăng nhanh, trong khi thu nhập trung bình ở nông thôn chỉ bằng khoảng 60% so với thành thị (Phụ lục 5). Luận án sẽ phân tích các hình mẫu chiến lược sinh kế phổ biến, sự thay đổi theo thời gian, và vai trò của vốn xã hội trong việc định hình các chiến lược sinh kế này. Các hộ dân khu vực nông thôn...

4.1. Đô thị hóa và chênh lệch thu nhập nông thôn thành thị

Tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa đã thúc đẩy tỷ lệ dân cư sống ở các khu vực thành thị tăng từ mức khoảng 19% vào năm 1990, đến năm 2015 đạt mức 34% và đến năm 2020 đã đạt mức xấp xỉ 37% (Phụ lục 5). So với thành thị, thu nhập trung bình của khu vực nông thôn chỉ bằng khoảng 60% thu nhập trung bình của khu vực thành thị, mức độ giãn cách thu nhập trên khía cạnh tuyệt đối giữa 2 khu vực này ngày càng tăng (Phụ lục 5).

4.2. Phân tích hình mẫu chiến lược sinh kế phổ biến

Luận án sẽ phân tích các hình mẫu chiến lược sinh kế phổ biến, sự thay đổi theo thời gian, và vai trò của vốn xã hội trong việc định hình các chiến lược sinh kế này.

V. Vai Trò Vốn Xã Hội Lựa Chọn và Dịch Chuyển Sinh Kế 59

Luận án đi sâu vào phân tích vai trò của vốn xã hội trong việc lựa chọn và dịch chuyển chiến lược sinh kế. Mô hình lựa chọn chiến lược sinh kế, bao gồm các chiến lược phi nông nghiệp, nông nghiệp, làm thuê và chuyển giao, được phân tích để hiểu rõ tác động của vốn xã hội. Luận án cũng xem xét vốn xã hội trong bối cảnh chiến lược sinh kế động, đánh giá vai trò của nó trong quá trình chuyển đổi sinh kế.

5.1. Phân tích mô hình lựa chọn chiến lược sinh kế

Mô hình lựa chọn chiến lược sinh kế, bao gồm các chiến lược phi nông nghiệp (LS1), nông nghiệp (LS2), làm thuê-làm công (LS3) và chuyển giao (LS4), được phân tích để hiểu rõ tác động của vốn xã hội.

5.2. Vốn xã hội trong chiến lược sinh kế động

Luận án cũng xem xét vốn xã hội trong bối cảnh chiến lược sinh kế động, đánh giá vai trò của nó trong quá trình chuyển đổi sinh kế.

VI. Chính Sách Nâng Cao Vai Trò Vốn Xã Hội Đến 2030 54

Luận án đưa ra các quan điểm và hàm ý chính sách nhằm nâng cao vai trò của vốn xã hội trong chiến lược sinh kế đến năm 2030. Các chính sách tập trung vào cải thiện và thúc đẩy vốn xã hội trong các chiến lược sinh kế, tận dụng vai trò của vốn xã hội trong khai thác hiệu quả các nguồn vốn sinh kế, và phát huy vai trò của vốn xã hội trước các bối cảnh mới.

6.1. Cải thiện và thúc đẩy vai trò vốn xã hội trong sinh kế

Các chính sách tập trung vào cải thiện và thúc đẩy vốn xã hội trong các chiến lược sinh kế.

6.2. Tận dụng vốn xã hội để khai thác nguồn vốn sinh kế

Các chính sách tận dụng vai trò của vốn xã hội trong khai thác hiệu quả các nguồn vốn sinh kế.

6.3. Phát huy vốn xã hội trước các bối cảnh thay đổi

Các chính sách phát huy vai trò của vốn xã hội trước các bối cảnh mới.

13/05/2025
Vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của các hộ gia đình nông thôn việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, luận án tập trung lược khảo các nghiên cứu đi trước có liên quan đến luận án trên thế giới và Việt Nam, từ đó tìm ra các điểm hạn chế và khe hở trong nghiên cứu mà luận án sẽ tập trung thực hiện.1 Tổng quan về các nghiên cứu về chiến lược sinh kế của nông hộ Chiến lược sinh kế của hộ nói chung và nông hộ nói riêng là một chủ đề quan trọng trong chuỗi nghiên cứu về sinh kế hộ. Nhiều khía cạnh được đặt ra trong các nghiên cứu về chiến lược sinh kế của hộ từ việc hộ có chiến lược sinh kế hay không đến các cách tiếp cận khác nhau trong xác định chiến lược sinh kế của hộ. Một hộ gia đình có chiến lược sinh kế hay không? Đây là một tranh luận giữa các nhà nghiên cứu về sinh kế. Hơn thế nữa, nếu có thì khái niệm này có thể áp dụng cho toàn bộ các hộ gia đình hay chỉ có một phần các hộ gia đình.

Nghiên cứu của Alan Warde (1990, dẫn theo Wallace (2002)) đề xuất về khái niệm chiến lược đối với hộ gia đình có thể được xem xét dưới dạng chiến lược mạnh và yếu. Wallace (2002) xác định chiến lược của hộ là một khái niệm chắc chắn và có thể được áp dụng cả ở khía cạnh chiến lược mạnh và chiến lược yếu. Các nghiên cứu sinh kế nói chung và chiến lược sinh kế của nông hộ nói riêng, đặc biệt là các nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu, thường sử dụng các khái niệm chiến lược yếu trong khai thác các chiến lược sinh kế cụ thể. Các nghiên cứu quan trọng đánh dấu mốc trong nghiên cứu về chiến lược sinh kế như Chambers (1995), Scoones (1998), DFID (1999), Ellis (2000) đã định hình các góc nhìn thực chứng về chiến lược sinh kế của hộ.

Trong nghiên cứu của Chambers (1995) với tựa đề “Nghèo đói và sinh kế: thực tế của ai?” hướng đến việc khám với các góc nhìn tổng quát và chuẩn hóa về nghèo đói. Chambers đã xác định mục tiêu sinh kế là điều được đồng thuận bởi cả những người nghèo và các chuyên gia nghiên cứu. Đồng thời, Chambers xác định “các chiến lược sinh kế của hộ gia đình thường gắn liền với các thành viên trong các hoạt động 10 đa dạng và các nguồn lực hỗ trợ ở các thời điểm khác nhau trong năm”1. Như thế, chiến lược sinh kế của hộ gia đình được chỉ ra là các hoạt động đa dạng của các thành viên trong gia đình với các nguồn lực hỗ trợ ở các thời điểm khác nhau trong năm.

Các chiến lược sinh kế theo Chambers bao gồm ít nhất 22 chiến lược khác nhau (và các chiến lược khác không được liệt kê định danh) với hoạt động đa dạng hóa và phức tạp hóa các chiến lược của họ nhằm hướng đến việc gia tăng thu nhập, giảm các biến động và cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Có thể nói, trong nghiên cứu này, Chambers thảo luận đến chiến lược sinh kế như là một trung tâm trong tiếp cận thảo luận về nghèo đói và sinh kế bền vững của hộ. Trong nghiên cứu của Scoones (1998) “Các sinh kế nông thôn bền vững: khung phân tích”, trong nghiên cứu này Scoones tập trung vào 3 câu hỏi nghiên cứu quan trọng để xây dựng khung phân tích, trong đó xem xét vai trò của các chiến lược sinh kế trong việc thiết lập hay cản trở việc đạt đến các sinh kế bền vững của các nhóm hộ khác nhau. Dưới góc nhìn của Scoones (1998) thì các chiến lược sinh kế là kết nối giữa các quá trình phức tạp mang tính động và đầu ra sinh kế của hộ với 3 chiến lược sinh kế của nông hộ là: tập trung hay mở rộng các hoạt động nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế, di cư.

Scoones nhấn mạnh về việc hiểu rõ các kết nối giữa quá trình động trong chiến lược kinh kế và đầu ra là điểm cốt lõi của bất kỳ cuộc khám phá/tìm hiểu về các sinh kế bền vững, trong đó các phân tích đòi hỏi phải “mở hộp” ba chiến lược sinh kế cốt lõi để phân biệt các tính động và các đầu ra sinh kế của hộ. Trên quan điểm của DFID (1999) trong “Các bản hướng dẫn về các sinh kế bền vững” thì các chiến lược sinh kế một trong các thành phần thiết yếu được sử dụng để chỉ cho các hoạt động của các người dân thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sinh kế của họ. Quan điểm của DFID cũng cho rằng việc sử dụng các cụm từ về “chiến lược đáp ứng” (adaptive strategies) với ý nghĩa của “chiến lược sinh kế” là không chính xác. Chiến lược đáp ứng và chiến lược đối phó (coping strategies) được sử dụng trong các thời điểm khủng hoảng, còn thuật ngữ chiến lược sinh kế bao hàm định nghĩa về một chuỗi và kết hợp các hoạt động cũng như lựa chọn của người dân 1 Nguyên văn: “Household livelihood strategies often involve different members in diverse activities and sources of support, at different times of the year” 11 (quyết định hay thực hiện) để đạt đến các mục tiêu sinh kế của họ.

Hơn thế nữa, Ellis (2000) còn khẳng định tầm quan trọng của chiến lược sinh kế như là kim chỉ nam trong định hướng các hoạt động tạo thu nhập của hộ mà còn ở việc lựa chọn các hoạt động kinh tế- xã hội – văn hóa khác nhau của hộ để kiến tạo các nghề nghiệp chính của hộ. Ellis (1998) thực hiện lược khảo hệ thống các nghiên cứu gắn liền với chiến lược sinh kế của nông hộ ở các nước đang phát triển. Kết quả cho thấy, các nghiên cứu về chiến lược sinh kế khẳng định các hộ quan tâm trực tiếp đến những phương thức để sinh sống hơn là các kết quả ròng từ nguồn thu nhập nhận được. Theo Paul Winters và các cộng sự (2001) thì một chiến lược sinh kế là một quá trình lựa chọn các hoạt động và đầu tư tài sản để giữ và nâng cao sinh kế của hộ; nghĩa là chiến lược sinh kế gắn liền với mục tiêu sinh kế của hộ.

Quan điểm này tương tự với quan điểm của một số nhà nghiên cứu sau này, và do đó việc nghiên cứu về chiến lược sinh kế thường tập trung vào một chiến lược sinh kế đặc biệt trong một bối cảnh cụ thể (Barrett và cộng sự, 2001; Carswell, 2002; Jansen và cộng sự, 2006; Kassie và cộng sự, 2017; Loison, 2016; Quisumbing và cộng sự, 2014). Không chỉ xác định chiến lược sinh kế trong trạng thái tĩnh, các nghiên cứu gần đây tiếp tục đi vào sự biến động hay chuyển đổi trong chiến lược sinh kế của hộ. Tính động của chiến lược sinh kế được khám phá qua sự thay đổi của chiến lược sinh kế hộ qua thời gian hay sự thay đổi trong chiến lược sinh kế của hộ qua các sự kiện/ cú sốc hay sự thay đổi trong trạng thái chiến lược sinh kế của hộ. Một trong những nghiên cứu quan trọng trong dòng nghiên cứu này là nghiên cứu Van den Berg (2010) trong nghiên cứu “Các chiến lược thu nhập hộ gia đình và các thảm họa tự nhiên: Các sinh kế động ở nông thôn Nicaragua”, tác giả tập trung vào tác động của cơn bão Mitch lên biến động trong sinh kế của các hộ nông thôn ở Nicaragua.

Kết quả của Van den Berg cho thấy một tỷ lệ lớn các hộ dân có sự biến chuyển trong chiến lược sinh kế của họ theo thời gian (van den Berg, 2010). Điều này tương tự với nghiên cứu về chiến lược sinh kế và các bước chuyển trong chiến lược sinh kế của hộ tại các vùng nông thôn Trung Quốc của J.Zhang và cộng sự (2019), các tác giả đã xác định các tài sản về nguồn vốn nhân lực cùng các phương 12 tiện giao thông trở thành các nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy việc lựa chọn các chiến lược sinh kế tốt hơn, bên cạnh đó, các nguồn lực về đất đai cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy các gia đình chuyển sang các chiến lược sinh kế tốt hơn (Zhang và cộng sự, 2019). Đây cũng là dòng nghiên cứu về chiến lược sinh kế được chú ý gần đây, các nghiên cứu không chỉ xem xét sự biến động của chiến lược sinh kế hộ mà còn xem xét sự biến động này ở các bối cảnh khác nhau, không gian khác nhau và dưới các áp lực khác nhau ( Liu & Liu, 2016; Jiao, Pouliot, & Walelign, 2017; Yobe, Mudhara, & Mafongoya, 2019). Trong nghiên cứu về chiến lược sinh kế, dù tiếp cận và phân tích ở khía cạnh tĩnh hay động thì một trong các thách thức lớn nhất mà các nghiên cứu đối mặt là cách thức xác định chiến lược sinh kế của hộ.

Sư khác biệt trong định lượng chiến lược sinh kế có thể tóm tắt 3 cách tiếp cận chủ yếu để xác định chiến lược sinh kế của hộ: tiếp cận từ tài sản sinh kế, tiếp cận từ hoạt động/đầu ra sinh kế và hỗn hợp. Về tiếp cận xác định tài sản sinh kế, Ellis (2000) nhấn mạnh chiến lược sinh kế là các lựa chọn được xác định bởi các nguồn lực tài sản của hộ (đất, đầu vào, giáo dục,.) được điều chỉnh bởi bối cảnh sinh kế mà hộ đang sống. Gần với quan điểm của Ellis (2000), quan điểm của Paul Winters, Corral, & Gordillo (2001) là các chiến sinh kế được xây dựng/hình thành từ các nguồn tài sản của hộ, các thúc đẩy tự nhiên, các nhân tố kinh tế xã hội và các yếu tố thể chế. Jansen và các cộng sự (2006) xác định chiến lược sinh kế của hộ là một tập bao gồm các biến số tài sản của hộ được sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của hộ, trong đó các tác giả sử dụng các tài sản về lao động và đất để xác định các chiến lược sinh kế của hộ.

Dựa trên kết quả từ Jansen và cộng sự (2006), van den Berg (2010) với các tiếp cận chi tiết hơn và bằng các kỹ thuật phân nhóm định lượng để xác định nhóm chiến lược sinh kế của hộ. Dù vậy, việc đưa vào các loại loại tài sản sinh kế nào để xác định chiến lược sinh kế của hộ lại là vấn đề tranh luận. Jansen và cộng sự (2006) cũng như của van den Berg (2010) giới hạn trong tài sản nguồn lực lao động và đất để xác định chiến lược sinh kế của hộ. Nhưng như vậy vẫn là chưa đủ vì còn các tài sản khác của hộ như vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn xã hội.

Bên cạnh đó, vì chỉ sử dụng các chỉ báo về tài sản nên 13 các tiếp cận này thiếu sót/bỏ quên các thông tin về lao động trong việc phân bổ cho các hoạt động sinh kế khác nhau của hộ (Walelign và cộng sự, 2017).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Vốn Xã Hội và Chiến Lược Sinh Kế của Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam: Nghiên cứu Luận Án cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của vốn xã hội trong việc hình thành và phát triển chiến lược sinh kế của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vốn xã hội mà còn chỉ ra cách mà nó có thể được khai thác để nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân nông thôn. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ mối liên hệ giữa vốn xã hội và các chiến lược sinh kế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để cải thiện điều kiện sống của mình.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn tác động của vốn xã hội đến đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của vốn xã hội đối với việc đa dạng hóa nguồn thu nhập, từ đó cung cấp thêm góc nhìn và thông tin hữu ích cho việc phát triển bền vững trong cộng đồng nông thôn.