CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về các hệ thống truyền thông Hệ thống truyền thông được hiểu cơ bản nhất là các hệ thống có khả năng hay cải tiến sự truyền dẫn và phân tán thông tin hữu ích giữa con người ở các vị trí khác nhau. Về mặt kỹ thuật, mục đích của một hệ thống truyền thông là để truyền tin tức từ một nguồn thông tin tới một hoặc nhiều nơi đến. Nói chung, chúng ta có thể xác định được bốn khâu cơ bản của một hệ truyền thông như ở hình 1. Nguồn Máy phát Kênh Máy Khôi phục thông tin truyền thu tin tức dẫn Hình 1.1: Sơ đồ khối của một hệ truyền thông đơn giản - Nguồn thông tin: Nơi bắt đầu của một thông tin hay tin tức có ích cần được phát hay phân tán.
Trong các hệ thống truyền thông hiện đại, thông tin hay tin tức có thể được tạo ra dưới dạng tương tự hay dạng số. Chẳng hạn, tiếng nói hay âm thanh có dạng là các tín hiệu tương tự mà khi qua máy tính dữ liệu là các tín hiệu số. Hơn nữa, thông tin tương tự có thể được biến đổi sang dạng số. Trong trường hợp này, thông tin được số hoá theo quan điểm của hệ truyền thông.
- Máy phát: Nguyên tắc của máy phát là để biến đổi tín hiệu phát sang dạng phù hợp với kênh truyền dẫn. Trong các máy phát tín hiệu tương tự thông thường, tín hiệu thường được điều biến biên độ, tần số hay pha của một sóng mang hình sin. Vì vậy bộ điều biến cho phép tín hiệu tin tức chiếm giữ một phổ tần số phân định. Trong các hệ thống số, sự điều biến biên độ, tần số hay pha của sóng mang hình sin bằng các hệ thống điều biến khoá dịch biên độ (ASK), khoá dịch tần số (FSK) và khoá dịch pha (PSK) cơ bản cấu tạo bởi các kí tự số.
Đặc biệt, để tạo ra băng tần có hiệu quả, quá trình điều biến phải được thiết kế sao cho tín hiệu điều Ứng dụng hiện tượng hỗn loạn vào đa truy nhập phân chia theo mã 2 Lê Thị Ngọc Hà Luận văn thạc sỹ chế chiếm băng tần phù hợp với tốc độ dữ liệu. Các hệ truyền thông như vậy được gọi là các hệ truyền thông băng hẹp. - Kênh truyền dẫn: Là môi trường vật lý qua đó tín hiệu từ máy phát được truyền đến máy thu. Có hai dạng kênh truyền cơ bản là kênh vô tuyến và kênh hữu tuyến.
Các vô tuyến là khí quyển thông thường trong khi kênh hữu tuyến có thể được tạo ra từ các dạng khác nhau như cáp vòng xoắn, cáp đồng trục hay cáp quang. Mặc dù không kể đến loại môi trường truyền dẫn nào, tín hiệu phát sẽ bị lỗi ngẫu nhiên ở một số cơ chế nào đó. Ví dụ, nhiễu cộng có thể được sinh ra từ quá trình nhiệt, quá trình đánh lửa tự động, hệ thống chiếu sáng… Hơn nữa, nếu có nhiều thuê bao chiếm kênh trong cùng thời gian, nhiễu qua lại sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu. Một nguyên nhân khác, chất lượng tín hiệu giảm do kênh truyền dẫn đa đường, là kết quả của tín hiệu truyền đi theo một số đường trực tiếp và phản xạ vật lý giữa máy phát và máy thu.
Méo dạng như vậy là dạng nhiễu không cộng và là nguyên nhân làm cho biên độ tín hiệu thay đổi. Hiệu ứng này được gọi là pha đinh đa đường. - Máy thu: Tại phía thu, tin tức có ích ban đầu sẽ được khôi phục. Đây là nhiệm vụ của máy thu.
Do tín hiệu thu bị lỗi bởi nhiều cơ chế khác nhau, việc khôi phục tín hiệu có thể không đạt hiệu quả. Chất lượng tín hiệu thu thường được mô tả bằng tỉ số tín hiệu trên nhiễu (SNR) trong trường hợp nguồn ở dạng tương tự. Trong trường hợp truyền dẫn số, chất lượng thu được đánh giá bằng tỉ số năng lượng bit trên mật độ phổ công suất nhiễu (E b/N0). Năng lượng bit thường được định nghĩa là E b được xác định bởi trung bình năng lượng phát trên một bit và N 0/2 biểu diễn mật độ phổ công suất hai phía của nguồn nhiễu cộng trắng Gaussian.
Tính năng của một hệ thống truyên thông số thường được đánh giá bằng tỉ số lỗi bit (BER), được định nghĩa như là xác suất một bit sẽ được giải mã lỗi. Cho hai hệ thống điều chế số khác nhau làm việc cùng một tốc độ bit, so sánh tính năng đặc trưng của chúng dựa trên hệ số BER với Eb/N0 giống nhau. Ứng dụng hiện tượng hỗn loạn vào đa truy nhập phân chia theo mã 3 Lê Thị Ngọc Hà Luận văn thạc sỹ Các tiêu chuẩn đánh giá tính năng khác bao gồm hiệu quả băng tần và khả năng chống nhiễu.2 Truyền thông trải phổ Truyền thông trải phổ lần đầu tiên được triển khai để tạo ra phương tiện truyền thông bảo mật cho quân sự sử dụng trong điều kiện không thuận lợi. Trong một môi trường quân sự, thông tin liên lạc phải được bảo vệ để chống lại hai dạng xâm nhập là suy giảm và chống nhiễu.
Công nghệ trải phổ có thể cung cấp phương tiện bảo vệ như thế. Không giống tín hiệu băng hẹp, công suất tập trung trong độ rộng băng tần tương đương với tốc độ dữ liệu. tín hiệu trải phổ trải công suất của nó trên độ rộng băng tần rộng hơn. Kết quả là mật độ phổ công suất trung bình trở nên nhỏ hơn và tín hiệu dễ bị che lấp trên nền nhiễu.
Nếu không có hiểu biết đầy đủ về hệ thống truyền thông và sử dụng thiết bị không tinh vi thì khó có thể phát hiện sự tồn tại của tín hiệu. Thậm chí nếu tín hiệu được phát hiện mà không có sự giải mã thông tin hợp lý thì tin tức khó có thể được khôi phục. Một vấn đề khác liên quan đến hệ thống băng hẹp là tín hiệu phát đi dễ bị nhiễu hay ngắt quãng. Ví dụ chèn có mục đích một tín hiệu sin vào độ rộng băng tần của tín hiệu băng hẹp cho trước.
Bằng cách áp dụng kỹ thuật trải phổ, hiệu quả chống nhiễu có phần được khắc phục cho phép khôi phục được tin tức theo yêu cầu. Ngày nay nhiều ứng dụng thương mại như các hệ thống truyền thông di động, hệ thống định vị cũng được sử dụng công nghệ trải phổ. Các yêu cầu cơ bản của một hệ thống truyền thông trải phổ được tóm tắt như sau: + Tín hiệu phát chiếm giữ một băng tần có độ rộng lớn hơn nhiều tốc độ dữ liệu. + Độ rộng băng tần của tín hiệu phát không phụ thuộc vào tốc độ dữ liệu.
+ Giải điều chế phải đạt được một phần bằng sự tương quan tín hiệu thu với bản sao của tín hiệu được sử dụng trong máy phát để trải dữ liệu. Như vậy, công nghệ trải phổ bao gồm hai hệ thống chính: Hệ thống trải phổ chuỗi trực tiếp (direct-sequence: DS) và hệ thống trải phổ nhảy tần (frequency- Ứng dụng hiện tượng hỗn loạn vào đa truy nhập phân chia theo mã 4 Lê Thị Ngọc Hà Luận văn thạc sỹ hopping: FS). Ngoài ra còn có các kỹ thuật trải phổ khác được sử dụng như hệ thống nhảy thời gian và một số hệ thống lai kết hợp phương pháp chuỗi trực tiếp và nhảy tần. Trong chương này, chúng ta đưa ra tổng quan về hoạt động của hai hệ thống trải phổ, đó là hệ thống trải phổ chuỗi trực tiếp và hệ thống trải phổ nhảy tần.1 Kỹ thuật trải phổ chuỗi trực tiếp Trong hệ thống truyền thông trải phổ chuỗi trực tiếp (DS-SS) chuỗi dữ liệu nhị phân có dạng giá trị ±1 đầu tiên được nhân lên bởi một dãy các chip nhị phân được hiểu là chuỗi trải.
Dạng các chuỗi trải là m chuỗi và chuỗi Gauss. Hệ thống DS-SS được thiết kế sao cho tốc độ chip nhanh hơn nhiều so với tốc độ dữ liệu. Do đó, kết quả tín hiệu trải phổ có độ rộng băng tần được xác định bởi tốc độ chip và lớn hơn nhiều so với độ rộng băng tần xác định bởi tốc độ dữ liệu nhị phân. Tại phía thu, chuỗi các chip nhị phân tương tự như trên (được gọi là chuỗi giải trải) được phục hồi.
Quá trình giải trải được thực hiện bởi việc nhân chuỗi trải với tín hiệu vào. Căn cứ vào sự tương quan đầu ra, bit nhị phân +1 hay -1 có thể được phân biệt rõ. Nếu kênh không làm méo dạng tín hiệu quá xấu, sự giao thoa và mức độ nhiễu tương đối thấp thì chuỗi dữ liệu có thể được khôi phục chính xác.2 Các dạng băng tần của một hệ truyền thông trải phổ chuỗi trực tiếp chuẩn hoá theo chu kỳ bit. (a) Dữ liệu nhị phân; (b) Chuỗi trải; (c) Dạng sóng phát đi sau khi trải phổ; (d) Chuỗi giải trải; (e) Khôi phục dữ liệu.2 chỉ ra tín hiệu băng tần cơ sở trong hệ thống truyền thông trải phổ chuỗi trực tiếp với điều kiện bỏ qua méo dạng kênh truyền.
Lưu ý rằng để đơn giản ta giả thiết rằng đồng bộ thời gian lý tưởng và bỏ qua thành phần sóng mang. Phổ công suất nguồn tín hiệu trước và sau khi trải được chỉ ra ở hình 1.3, trong đó chu kỳ kí hiệu và chu kỳ chip là T b và Tc tương ứng. Tỉ số chu kỳ kí hiệu trên chu kỳ chip T b/Tc được gọi là hệ số trải. Đối với phổ tần số, hệ số trải tương tự như hệ số xác định bởi độ rộng băng tần ban đầu giãn ra.4 chỉ ra nguyên lý hoạt động cụ thể của hệ thống DS-SS mà cụ thể là hệ thống DS-SS khóa dịch pha nhị phân.
Ứng dụng hiện tượng hỗn loạn vào đa truy nhập phân chia theo mã 6 Lê Thị Ngọc Hà Luận văn thạc sỹ S b(f) a) -T b Tb f S bc(f) b) -T c Tc f Hình 1.3 Phổ công suất của tín hiệu trải phổ chuỗi trực tiếp (a). Trước khi trải; (b). Sau khi trải 1.2 Kỹ thuật trải phổ nhảy tần Hình 1.5 là sơ đồ khối của một hệ thống truyền thông trải phổ nhảy tần (FH- SS). Trong hệ thống này, tần số tín hiệu sóng mang nhảy theo một dãy các tần số thành một dãy các bước nhảy xác định trước.
Đặc biệt bộ phát mã điều khiển bộ tổng hợp tần số tạo ra tín hiệu nhảy tần.5 chỉ ra rằng bộ tổng hợp tần số có một tần số nhảy 1/T c làm thay đổi tần số sau mỗi T c giây và chuỗi tần số đó là {f 1, f 2, f3,. Hoạt động chính của hệ thống FS-SS là để trộn tín hiệu khoá dịch pha nhị phân thông thường (Binary phase-shift-keying: BPSK) với tín hiệu sóng mang tổng hợp và kết quả tín hiệu được đi qua bộ lọc thông cao.