Đồ Án Tổng Quan Về Mạng và Các Dịch Vụ Internet Thông Dụng

Đồ án tốt nghiệp: Tổng quan về mạng máy tính và các dịch vụ Internet phổ biến. Tìm hiểu kiến trúc mạng, giao thức, ứng dụng web, email, và bảo mật mạng.

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG VÀ CÁC DỊCH VỤ THÔNG DỤNG TRÊN INTERNET

1.1. Động lực thúc đẩy sự ra đời mô hình mạng Client/Server:

1.2. Nguyên tắc hoạt động mạng theo mô hình client/Server:

1.3. Các khái niệm cơ bạn về mạng:

1.3.1. Mạng cục bộ(LAN-Wide Area Network):

1.3.2. Mạng đô thị(Metropolitan Area Networks - viết tắt là Man):

1.3.3. Mạng diện rộng(WAN – Wide Area Networks):

1.3.4. Mạng Internet :

1.4. World Wide 1 W Web((1):

Tóm tắt

I. Tổng Quan Mạng Máy Tính Nền Tảng Truyền Thông Hiện Đại

Mạng máy tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin, kết nối con người và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Sự ra đời của mạng máy tính đã giải quyết bài toán chia sẻ tài nguyên, tăng hiệu quả làm việc và tạo ra môi trường giao tiếp, cộng tác toàn cầu. Mô hình Client/Server là một trong những ứng dụng quan trọng, cơ bản về mạng. Rất nhiều dịch vụ hỗ trợ trên Internet hoạt động theo mô hình này, ví dụ như e-mail, web, FTP, nhóm tin Usenet, Telnet, chat… Các chương trình dịch vụ ở trình khách (Client) sẽ kết nối với trình chủ ở xa (Server), sau đó gửi các yêu cầu đến trình chủ. Trình chủ sẽ xử lý yêu cầu này và gửi kết quả về cho trình khách. Thông thường, trình chủ phục vụ cho rất nhiều trình khách đến cùng một lúc. Thập niên 90 chứng kiến sự bùng nổ của Web và mạng hóa. Yêu cầu truy cập thông tin nhanh chóng, chính xác và an toàn đặt ra những thách thức lớn cho các nhà lập trình và quản lý. Lập trình mạng theo mô hình Client/Server trở thành giải pháp an toàn. Mạng Client/Server có một tiêu chuẩn cơ bản: không có một Client nào sử dụng tài nguyên của một Client khác. Tài nguyên dùng chung được đặt trên một hay nhiều Server chuyên dụng theo từng dịch vụ như E-mail, file server, chat, Web, FTP… Client không bao giờ nhìn thấy nhau mà chỉ giao tiếp với Server. Mô hình này hữu dụng trong các công ty, tổ chức cần quản lý tài nguyên hiệu quả. Thuật ngữ Server chỉ bất kỳ chương trình nào hỗ trợ dịch vụ có thể truy xuất qua mạng. Server nhận yêu cầu qua mạng, thực hiện dịch vụ và trả kết quả về nơi yêu cầu. Các Server có thể thực hiện những công việc đơn giản đến phức tạp. Ví dụ, time-of-day Server chỉ trả về giờ hiện hành khi Client gửi thông tin. Web Server nhận yêu cầu từ trình duyệt để lấy một bản sao của trang web, Server sẽ lấy bản sao của tập tin trang web này trả về cho trình duyệt. Mô hình Client/Server thực hiện việc phân tán xử lý giữa các máy tính. Về bản chất là một công nghệ được chia ra và xử lý bởi nhiều máy tính, các máy tính được xem là Server thường được dùng để lưu trữ tài nguyên để nhiều nơi truy xuất vào. Các Server sẽ thụ động chờ để giải quyết các yêu cầu từ Client truy xuất đến chúng. Thông thường, các Server được cài đặt như một chương trình ứng dụng. Vì vậy ưu điểm của việc cài đặt các Server như những chương trình ứng dụng là chúng có thể xử lý trên hệ máy tính bất kỳ nào hỗ trợ thông tin liên lạc theo giao thức TCP/IP hay một giao thức thông dụng khác. Như thế, Server cho một dịch vụ cụ thể có thể chạy trên một hệ chia thời gian cùng với nhưng chương trình khác, hay nó có thể xử lý trên cả máy tính cá nhân. Một chương trình ứng dụng trở thành Client khi nó gửi yêu cầu tới Server và đợi lời giải đáp trả về. Ứng dụng đầu tiên của mô hình Client/Server là ứng dụng chia sẻ file. Nhiệm vụ của máy Client là thi hành một dịch vụ cho người dùng, bằng cách kết nối với những chương trình ứng dụng ở máy Server, dựa vào những chuỗi nhập để chuyển yêu cầu đến Server và nhân kết quả trả về từ Server hiển thị thông tin nhân được cho người dùng. Nhiệm vụ của máy Server là lắng nghe những kết nối đến nó trên những cổng liên quan đến giao thức mà Server phục vụ. Khi máy Client khởi tạo kết nối, máy Server chấp nhận và tạo ra luồng riêng biệt phục vụ cho máy Client đó. Ngoài ra máy Server phải quản lý các hoạt động của mạng như phân chia tài nguyên chung trong việc trao đổi thông tin giữa các Client. Máy Server có thể đóng vai trò là máy trạm (Client) trong trường hợp này gọi là máy Server “không thuần tuý”. Server phải đảm bảo được hai yêu cầu cơ bản nhất đối với chức năng Server: cho phép truyền dữ liệu nhanh chóng và bảo đảm tính an toàn, bảo mật và không mất mát dữ liệu.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Từ ARPANET Đến Mạng Internet Toàn Cầu

Internet bắt đầu từ năm 1969 dưới cái tên ARPANET (Advanced Research Projects Agency), thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD). Ban đầu, mạng chỉ có 4 máy tính được thiết kế để minh họa khả năng xây dựng mạng bằng cách dùng máy tính nằm rải rác trong một vùng rộng. Năm 1972, khi ARPANET được trình bày công khai, đã có 50 trường đại học và viện nghiên cứu kết nối vào. Mục tiêu của ARPANET là nghiên cứu hệ thống máy tính cho các mục đích quân sự. Chính phủ và quân đội tìm kiếm những phương cách để làm cho mạng tránh được các lỗi, mạng này thiết kế chỉ cho phép các văn thư lưu hành từ máy tính này đến máy tính khác, đối với chính phủ và quân đội, máy tính đã có những công dụng rõ ràng và sâu rộng. Tuy nhiên, một trong những mối bận tâm chính yếu là tính đáng tin cậy vì nó có liên quan đến vấn đề sinh tử. Kế hoạch ARPANET đã đưa ra nhiều đường nối giữa các máy tính. Điều quan trọng nhất là các máy tính bạn có thể gởi các văn thư bởi bất kỳ con đường khả dụng nào, thay vì chỉ qua một con đường cố định. Đây chính là nơi mà vấn đề về giao thức đã xuất hiện. Đầu năm 1980 trung tâm DARPA thử nghiệm giao thức TCP/IP và được các trường đại học mỹ cho phép nối với hệ điều hành UNIX BSD (Berkely Software Distribution).Hệ điều hành UNIX là hệ phát triển mạnh với rất nhiều công cụ hỗ trợ và đảm bảo các phần mềm ứng dụng có thể chuyển qua lại trên các họ máy khác nhau (máy mini, máy tính lớn và hiện nay là máy vi tính). Bên cạnh đã hệ điều hành UNIX BSD còn cung cấp nhiều thủ tục Internet cơ bản, đưa ra khái niệm Socket và cho phép chương trình ứng dụng thâm nhập vào Internet một cách dễ dàng.

1.2. Các Loại Mạng Phổ Biến LAN MAN WAN và Internet

Mạng có thể đơn giản chỉ gồm hai máy tính bằng cáp qua cổng máy in để truyền file, phức tạp hơn thì hiện nay có thể chia mạng ra thành các loại sau: Mạng cục bộ(LAN-Wide Area Network) : là mạng đơn giản nhất trong thế giới mạng, là một hệ thống bao gồm các nút là các máy tính nối kết với nhau bằng dây cáp qua card giao tiếp mạng trong phạm vi nhỏ tại một vị trí nhất định. Tuỳ theo cách giao tiếp giữa các nút mạng, người ta chia làm hai loại : Mạng ngang hàng (peer to peer [Windows workgroups]) : là một hệ thống mà mọi nút đều có thể sử dụng tài nguyên của các nút khác. Nghĩa là các máy tính trên mạng đều ngang nhau về vai trò, không có máy nào đóng vai trò trung tâm. Mạng khách chủ (client/server) : có ít nhất một nút trong mạng đảm nhiệm vai trò trạm dịch vụ (server) và các máy khác là trạm làm việc (workstation) sử dụng tài nguyên của các trạm dịch vụ. Server chứa hầu hết tài nguyên quan trọng của mạng và phân phối tài nguyên này tới các Client. Mạng đô thị(Metropolitan Area Networks - viết tắt là Man): Là mạng đặt trong phạm vi một đô thị hoặc một trung tâm kinh tế-xã hội có bán kính khoản 100km trở lại. Là mạng chỉ với một đường truyền thuê bao tốc độ cao qua mạng điện thoại hoặc thông qua các phương tiện khác như radio, microway, hay các thiết bị truyền dữ liệu bàng laser. MAN cho phép người dùng mạng trên nhiều vị trí địa lý khác nhau vẫn có thể truy cập các tài nguyên mạng theo cách thông thường như ngay trên mạng LAN. Tuy nhiên nhìn trên phương diện tổng thể MAN cũng chỉ là mạng cục bộ. Mạng diện rộng(WAN – Wide Area Networks): phạm vi của mạng vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả lục địa. WAN có nhiệm vụ kết nối tất cả các mạng LAN và MAN ở xa nhau thành một mạng duy nhất có đường truyền tốc độ cao. Tốc độ truy cập tài nguyên của mạng WAN thường bị hạn chế bởi dung lượng truyền của đường điện thoại thuê bao(phần lớn các tuyến điện thoại số cũng chỉ ở mức 56 kilobits/s) và chi phí thuê bao rất đắt đây là vấn đề để cho một công ty hay tổ chức nào muốn thiết lập mạng MAN cho công ty mình.

II. Thách Thức Cơ Hội Trong Phát Triển Mạng Và Dịch Vụ Internet

Mạng Internet là một tập hợp gồm hàng vạn mạng (LAN, MAN và WAN) trên khắp thế giới kết nối với qua một router (là thiết bị phân tuyến các luồn dữ liệu giữa các mạng) tạo thành một mạng chung trên toàn cầu theo mô hình client/Server, được phát triển vào đầu thập niên 70. Internet là công nghệ thông tin liên lạc mới, và hiện đại, nó tác động sâu sắc vào xã hội cuộc sống chúng ta, là một phương tiện cần thiết như điện thoại hay tivi, nhưng ở mức độ bao quát hơn. Chẳng hạn điện thoại chỉ cho phép trao đổi thông tin qua âm thanh, giọng nói. Với Tivi, thông tin nhận được trực quan hơn. Còn Internet đưa chúng ta vào thế giới có tầm nhìn rộng hơn và bạn có thể làm mọi thứ: viết thư, đọc báo, xem bản tin, giải trí, tra cứu và thậm chí còn thực hiện những phi vụ làm ăn. Internet là mạng của các mạng, tức bao gồm nhiều mạng máy tính kết nối lại với nhau, Số lượng máy tính nối mạng và số lượng người truy cập vào mạng Internet trên toàn thế giới đang ngày càng tăng lên nhanh chóng. Mặc dù mang lại rất nhiều cơ hội, sự phát triển của mạng và dịch vụ Internet cũng đi kèm với không ít thách thức. Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân, an ninh mạng, quản lý nội dung độc hại, và phân biệt đối xử trên mạng là những mối quan tâm hàng đầu. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc ngày càng tăng vào Internet cũng tạo ra những rủi ro về gián đoạn dịch vụ, tấn công mạng và các vấn đề liên quan đến quyền riêng tư và tự do ngôn luận.

2.1. Bảo Mật Thông Tin An Ninh Mạng Vấn Đề Nhức Nhối Hiện Nay

Một trong những thách thức lớn nhất là bảo mật thông tin cá nhân và an ninh mạng. Số lượng các vụ tấn công mạng, đánh cắp dữ liệu ngày càng gia tăng, gây thiệt hại lớn cho cá nhân, tổ chức và quốc gia. Cần có các giải pháp bảo mật mạnh mẽ, hiệu quả để bảo vệ thông tin quan trọng và đảm bảo hoạt động ổn định của mạng.

2.2. Quản Lý Nội Dung Ngăn Chặn Thông Tin Độc Hại Trên Internet

Việc quản lý nội dung và ngăn chặn thông tin độc hại trên Internet cũng là một thách thức không nhỏ. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, nhà cung cấp dịch vụ và người dùng để tạo ra một môi trường Internet lành mạnh, an toàn cho tất cả mọi người.

2.3. Kết Nối Quay Số Dial Up và Các Kiểu Kết Nối Internet Khác

Các kiểu kết nối Internet: Kết nối quay số(dial-up connection): rẻ tiền nhất nhưng tốc độ truy cập bị hạn chế và có thể bị gián đoạn bất ngờ khi quá tải kênh truyền. Kết nối qua các tuyến điện thoại có tốc độ truyền 56kbs/s tốc độ có khá hơn kiểu quay số nhưng không đáng kể. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển cực kỳ nhanh chóng của nhu cầu trao đổi thông tin trên mạng Internet, người ta xây dựng một kết nối có tốc độ cực nhanh đó là các tuyến backone, là các siêu xa lộ sử dụng loại cáp quan để truyền dữ liệu với tốc độ lên tới 622 megabits/s. Mạng Intranet, Extranet và Internet : Khi bạn xây dựng một mạng LAN, MAN hoặc WAN theo chuẩn Internet thì bạn đã tạo ra một mạng Intranet. Khi bạn kết nối mạng Intranet vào Internet và bắt đầu giao tiếp với thế giới bên ngoài bạn đã tạo ra một Extranet.Các ứng dụng Client/Server trên Internet thông dụng : Tuỳ theo thông tin lưu trữ và mục đích phục vụ mà các Server trên mạng Internet sẽ được phân chia thành các loại như Web server, Email server, Chat Server, hay FPT server,…. mỗi loại sẽ được tối ưu hoá theo mục đích sử dụng giao thức và cổng kết nối khác nhau.

III. Dịch Vụ World Wide Web WWW Cách Thông Tin Được Chia Sẻ

World Wide Web (WWW) là một ứng dụng hoàn hảo và phổ biến nhất hiện nay, cấu thành phần lớn nhất của Internet, dựa trên kỹ thuật biểu diễn thông tin gọi là siêu văn bản. Các từ được chọn trong văn bản có thể được mở rộng bất cứ lúc nào để cung cấp đầy đủ hơn thông tin về từ đó. Sự mở rộng ở đây theo nghĩa là chúng có thể liên kết tới các tài liệu khác: văn bản, hình ảnh, âm thanh, hay hỗn hợp các loại có chứa thông tin bổ sung. Nói cách khác World Wide Web là phần đồ họa của Internet. Thuở ban đầu, Internet là hệ thống truyền thông dựa trên văn bản; việc liên kết với những site khác có nghĩa là phải gõ những địa chỉ mã hóa dài dằng dặc với độ chính xác 100%. Công nghệ World Wide Web xuất hiện như là một vị cứu tinh. Khả năng đặt hình ảnh lên Web Site bất ngờ làm cho thông tin trên Web trở nên hấp nên hơn, lôi cuốn hơn. Ngoài ra HTTP (Hypertext Transfer Protocol) cho phép trang Web kết nối với nhau qua các siêu liên kết (hyperlink), nhờ vậy mà người dùng dễ dàng "nhảy" qua các Web site nằm ở hai đầu trái đất. Các trình duyệt ở các máy Client sẽ thay mặt người sử dụng yêu cầu những tập tin HTML từ Server Web bằng cách thiết lập một kết nối với máy Server web và đưa ra các yêu cầu tập tin đến Server. Server nhận những yêu cầu này, lấy ra những tập tin và gửi chúng đến cửa sổ của trình duyệt ở Client.

3.1. Cơ Chế Hoạt Động Của Web Server Giao Thức HTTP URL

Máy server Web dùng giao thức HTTP để lấy tài nguyên Web xác định thông tin qua URL. HTTP là một giao thức mức ứng dụng được thiết kế sao cho truy cập tài nguyên Web nhanh chóng và hiệu quả. Giao thức này dựa vào mô hình request-response. Dịch vụ Web xây dựng theo mô hình client/server, trong đó Web browser đóng vai trò là client gửi các yêu cầu dưới dạng URL đến server. Web server trả lời bằng cách trả về một trang Hypertext Markup Language (HTML). Trang HTML có thể là một trang tĩnh, tức là nội dung của nó đã có dạng xác định và được lưu trên Web site, hoặc một trang Web động (nội dung không xác định trước) mà server tạo ra tại thời điểm client yêu cầu để trả lời cho yêu cầu của client, hoặc một trang liệt kê các file và folder trên Web site.

3.2. Các Loại Trang Web Tĩnh Động và Danh Sách Liệt Kê

Trang Web tĩnh (Static webpage) : là những trang HTML đã được chuẩn bị sẵn. Web server chỉ đơn giản là lấy trang này gởi về cho Web browser mà không gọi thi hành một chương trình hay một script nào khác. người dùng yêu cầu một trang Web tĩnh bằng cách nhập vào một chuỗi URL hoặc click chuột vào một siêu liên kết trỏ tới URL. Trang Web động (Dynamic webpage) : là những trang Web được tạo ra tại thời điểm client gửi yêu cầu để đáp ứng yêu cầu của user. Server có thể sẽ gọi chạy một chương trình khác, sử dụng các API của server, các ngôn ngữ kịch bản CGI script, query cơ sở dữ liệu . tuỳ theo các thông tin mà web browser cung cấp. Danh sách liệt kê(Directory listing) : Nếu user gửi yêu cầu mà không mô tả một file cụ thể, thì có thể tạo một trang mặc nhiên cho Web site hay cho một thư mục, hoặc cấu hình server cho phép duyệt thư mục. Nếu sử dụng trang HTML mặc nhiên cho thư mục, thì trang này sẽ được gửi cho Web browser, còn nếu không có thì một directory listing (phiên bản HTML của Windows Explorer hay File Manager chạy trên trình duyệt) được trả về cho user dưới dạng một trang HTML, trong đó mỗi file và thư mục thể hiện như một siêu liên kết. Sau đó user có thể nhảy đến một file bất kỳ bằng cách click vào siêu liên kết tương ứng trong directory-listing.

IV. Thư Điện Tử E mail Giao Tiếp Nhanh Chóng Hiệu Quả

Thư điện tử (E-mail) là dịch vụ rất phổ biến và thông dụng trong mạng Internet/Intranet. Dịch vụ này không đòi hỏi hai máy tính gửi và nhận thư phải nối trực tiếp với nhau để thực hiện việc chuyển thư, mà là dịch vụ kiểu lưu và chuyển tiếp. Thư được chuyển từ máy này sang máy khác cho tới khi máy đích nhận được. Người nhận thực hiện một số thao tác đơn giản để lấy thư, đọc và in ra. Cách liên lạc này thuận tiện hơn so với gửi thư thông thường, điện báo hay fax, lại rẻ và nhanh hơn. Cách thực hiện việc chuyển thư không cần phải kết nối trực tiếp với nhau. Thư có thể được chuyển từ máy này đến máy khác cho tới máy đích. Giao thức truyền thống sử dụng cho hệ thống thư điện tử của Internet là SMTP (Simple Mail Transfer Protocol).

4.1. Cơ Chế Hoạt Động Của E mail SMTP POP3 IMAP

Giao thức liên lạc : mặc dù gởi thư trên Internet sử dụng nhiều giao thức khác nhau, nhưng giao thức SMTP (Single Message Transfer Protocol) được dùng trong việc vận chuyển mail giữa các trạm. Giao thức này đặc tả trong hai chuẩn là trong RFC 822 (định nghĩa cấu trúc của thư ) và RFC 821(đặc tả giao thức trao đổi thư giữa hai mạng) ngoài ra trong rfc2821 sẽ nói rõ các qui luật và cách hoạt động của giao thức. Là giao thức cơ bản để chuyển thư giữa các máy Client, SMTP có một bộ gởi thư, một bộ nhận thư, và một tập hợp lệnh dùng để gởi thư từ người gởi đến người nhận. Giao thức SMTP hoạt động theo mô hình khách/chủ (Client/ Server) với một tập lệnh đơn giản, trình khách (SMTP mail Client) sẽ bắt tay với trình chủ (SMTP mail Server) gởi các yêu cầu tiếp nhận mail. Trình chủ đọc nội dung mail do trình khách gởi đến và lưu vào một thư mục nhất định tương ứng với từng user trên máy chủ. Phần này sẽ được làm rõ hơn trong nhưng chương sau. Cứ mỗi trạm e-mail thường bao gồm ít nhất là hai dịch vụ: POP3 (Post Office Protocol Version 3) có nhiệm vụ nhận/trả thư từ/tới e-mail client và dịch vụ SMTP (Simple E-mail Transfer Protocol) có nhiệm vụ nhận/phân phối thư từ/đến POP3 đồng thời trao đổi thư với các trạm e-mail trung gian. POP3 được tìm thấy trong rfc1725 hay RFC 1939, là một giao thức đơn giản nhất, cho phép lấy mail về từ trình chủ POP3 Server. Ngoài tra trạm e-mail này có thể bổ sung thêm một số dịch vụ khác như ESMTP, IMAP và dịch vụ MX Record của dịch vụ DNS hay dịch vụ chuyển tiếp mail(Forward or relay). IMAP(INTERNET MESSAGE ACCESS PROTOCOL - VERSION 4rev1) thực chất là giao thức mới bổ Sung và mở rông hơn của giao thức POP3 còn thiếu. IMAP cho phép đọc, xoá, gởi, duy chuyển mail ngay trên máy chủ. Điều này rất thuận tiện cho người nhận mail phải thường xuyên di chuyển mail từ máy này sang máy khác trong quá trình làm việc. Tuy nhiên chi phí để cài đặt một trạm e-mail có giao thức IMAP là rất cao so với giao thức POP3.

4.2. Cấu Trúc Một Bức Thư Điện Tử Phong Bì Tiêu Đề và Nội Dung

Về cơ bản, một bức Mail bao gồm 3 phần chính: Phần phong bì: Mô tả thông tin về người gởi và người nhận. Do hệ thống tạo ra. Phần tiêu đề (header): chứa đựng các thông tin về người gởi, người nhận, chủ đề bức Mail, địa chỉ hồi âm. Các thông tin này, một số được người sử dụng cung cấp khi gởi Mail, một số khác được chương trình Mail thêm vào, và số còn lại do Hệ thống điền thêm. Phần nội dung (body): chứa đựng nội dung của bức Mail, là nội dung được tạo ra bởi trình soạn thảo Editor của chương trình Mail. Phần phong bì (Envelope): Phần này do các MTA tạo ra và sử dụng, nó chứa các thông tin để chuyển nhận email như địa chỉ của nơi nhận, địa chỉ của nơi gửi. Hay nói cách khác, giao thức SMTP sẽ quy định thông tin của phong bì, các hệ thống Email cần những thông tin này để chuyển dữ liệu từ một máy tính này sang một máy tính khác. Phần tiêu đề (header): - Phần này cung cấp những thông tin tổng quát về Email như người nhận, người gửi, ngày giờ nhận. - Cấu tạo gồm nhiều trường (field) cấu trúc mỗi trường là một dòng văn bản ASCII chuẩn 7 bit như sau: <tên trường >: <nội dung của trường>.

V. Các Dịch Vụ Internet Thông Dụng Khác Chat FTP Telnet

Ngoài WWW và E-mail, Internet còn cung cấp nhiều dịch vụ hữu ích khác như Chat, FTP, Telnet, Usenet... Mỗi dịch vụ có chức năng và ứng dụng riêng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng. Chat là tài nguyên được mọi người sử dụng trên Internet ưa chuộng nhất. Đây là tài nguyên rất lý thú, nó cho phép bạn thiết lập các cuộc đối thoại thông qua máy vi tính với người dùng khác trên Internet. Dịch vụ FPT (File Transfer Protocol) Là dịch vụ truyền tập tin(tệp) trên Internet. FPT cho phép dịch chuyển tập tin từ trạm này sang trạm khác, bất kể trạm đó ở đâu và sử dụng hệ điều hành gì, chỉ cần chúng đều được nối với Internet và có cài đặt FPT.

5.1. Dịch Vụ Chat Kết Nối và Giao Tiếp Trực Tuyến

Chat là tài nguyên được mọi người sử dụng trên Internet ưa chuộng nhất. Đây là tài nguyên rất lý thú, nó cho phép bạn thiết lập các cuộc đối thoại thông qua máy vi tính với người dùng khác trên Internet. Sau khi bạn đã thiết lập được hệ thống này, những gì bạn gõ trên máy tính của bạn gần như tức thời trên máy tính kia và ngược lại. Những cuộc trao đổi thông qua chương trình Chat là sự đối mặt trực tiếp giữa hai người đối thoại với nhau thông qua ngôn ngữ viết nên sẽ chậm hơn so với đối thoại bằng miệng nhưng chỉ có lợi ích nhất là với những người không cùng ngôn ngữ vì gõ-đọc dễ hơn nghe-nói và trong một số trường hợp khác thì gõ(viết) dễ hơn là nói.

5.2. FTP File Transfer Protocol Chia Sẻ Tệp Tin Dễ Dàng

Dịch vụ FPT (File Transfer Protocol) - Là dịch vụ truyền tập tin(tệp) trên Internet. FPT cho phép dịch chuyển tập tin từ trạm này sang trạm khác, bất kể trạm đó ở đâu và sử dụng hệ điều hành gì, chỉ cần chúng đều được nối với Internet và có cài đặt FPT. FPT là một chương trình phức tạp vì có nhiều cách khác nhau để xử lý tập tin và cấu trúc tập tin, và cũng có nhiều cách lưu trữ tập khác nhau. - Để khởi tạo FPT từ trạm làm việc của mình người sử dụng chỉ gõ : Fpt<domain name or IP address> - Fpt sẽ thiết lập liên kết các trạm xa và bạn sẽ đăng nhập vào hệ thống(login/password). Vì fpt cho phép truyền tập tin theo cả hai chiều. Để chuyển tập tin của mình đến trạm ở xa dùng lệnh put, và ngược lại dùng lệnh get để lấy thông tin về. Ngoài ra trong một số trường hợp nó có thể đổi tên, tạo, xoá thư mục….FPT Client sử dụng dịch vụ để lấy(get) các tập tin từ FPT Server về máy của mình (download) hoặc gởi(put) các tập tin lên FPT server (upload).

5.3. Telnet Truy Cập Từ Xa

Telnet là một chương trình dùng giao thức Telnet, nó là một phần của bộ giao thức TCP/IP. Nó cho phép người sử dụng từ một trạm làm việc của mình có thể đăng nhập vào một mạng ở xa qua mạng và làm việc với hệ thống y như một trạm cuối nói trực tiếp với trạm ở xa đó.

VI. Kiến Trúc Mạng Phân Tầng Mô Hình ISO Tìm Hiểu Sâu Hơn

Để có thể chuyển một thông điệp từ máy này sang máy khác(các máy phải dùng trong hệ thống mạng) nó phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau như là: chia nhỏ thông điệp ra thành nhiều gói nhỏ(package), mã hoá các gói này ra thành dạng bit, các bit này được chuyển qua đường truyền vật lý đến máy nhận. Sau đó quá trình nhận sẽ thực hiện ngược lại với bên gởi, nếu quá trình lắp ghép gặp phải lỗi thì phải thông báo để truyền lại,….Các giai đoạn này rất phức tạp đòi hỏi người lập trình phải hiểu rõ tất cả cơ chế hoạt động bên trong của hệ thống. Vì bậy người ta đưa ra ý tưởng phân tầng, mỗi tầng sẽ chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ cho tầng bên trên đồng thời nó cũng sử dụng dịch vụ của tầng bên dưới cung cấp cho nó. Như vậy thì một người làm việc ở tàng nào thì chỉ quan tâm đến tầng có quan hệ trực tiếp với mình.

6.1. Các Tầng Trong Mô Hình ISO Chức Năng và Nhiệm Vụ

Mô hình ISO gồm 7 tầng. Mỗi tầng có một chức năng khác nhau và cung cấp các interface để tầng trên có thể sử dụng lớp dưới. Mô hình ISO được coi là mô hình chuẩn vì các mô hình khác cũng dựa theo mô hình này để tạo ra một mô hình phù hợp cho riêng mình, mà ngày nay thông dụng nhất là mô hình TCP/IP. Physical: ở tầng này thông tin được truyền dưới dạng bit thông qua kênh truyền và nhận các bít chuyển tầng Datalink. Tầng này không có cấu trúc qua đường truyền vật lý, truy nhập đường truyền vật lý như các phương tiện cơ, điện, hàm, thủ tục. Datalink: tầng này có nhiệm vụ chia nhỏ dữ liệu từ tầng Network đưa xuống thành các frame, mỗi frame có dung lượng vài trăm byte đến vài ngàn byte. Các frame được truyền đi bằng cách chuyển xuống cho tầng phisical. Nhiệm vụ thứ hai là tổ chức nhận các frame sao cho đúng thứ tự, cung cấp khả năng truyền không lỗi trên đường truyền vật lý cho các lớp cao hơn. Network: định hướng gói dữ liệu(package) đi từ máy gởi đến máy nhận. Phải giải quyết vấn đề định tuyến(routing), vấn đề địa chỉ(addressing), lượng giá chi phí(accouting), và giải quyết đụng độ(collision). Transport:Chia nhỏ gói dữ liệu được đưa xuống từ tầng trên thành những đơn vị nhỏ hơn truyền qua mạng, với sự đảm bảo là dữ liệu đến nơi một cách chính xác. Session: điều kiển quá trình giao tiếp giữa hai tuyến trình trên máy. Cung cấp phương tiện quản lý truyền thông giữa các ứng dụng, thiết lập duy trì đồng bộ hoá và huỷ bỏ các phiên truyền thông giữa các ứng dụng. Presentation: biểu diễn những thông tin được truyền(được hiểu là cú pháp và ngữ nghĩa) nó đồng nhất các thông tin giữa các hệ thống khác nhau. Application: Cung cấp các phương tiện để người sử dụng có thể truy nhập được vào môi trường ISO, đồng thời cung cấp các dịch vụ thông tin phân tán hay dịch vụ cho người sử dụng. Ứng với mỗi dịch vụ có một protocol khác nhau.

6.2. So Sánh Mô Hình ISO TCP IP Ưu Điểm và Nhược Điểm

Mô hình TCP/IP gồm 4 tầng, trong đó 2 tầng dưới của mô hình ISO được gộp lại thành 1 tầng gọi là Host-to-network, 2 tầng Sesstion và presentation không có trong mô hình TCP/IP. Tương tự như mô hình ISO, mô hình TCP/IP dữ liệu từ 1 máy cũng đi từ tầng Application xuống Transport rồi xuống tiếp tầng Internet sau cùng là Host-to-network thông qua đường vật lý đến một máy khác trên mạng: dữ liệu ở đây cũng đi ngược từ dưới lên như mô hình ISO. Chức năng và ý nghĩa từng tầng trong mô hình TCP/IP như sau: Host-to-network: Đây là tầng giao tiếp mạng kết nối với network sao cho chúng có thể truyền các IP datagram tới các địa chỉ đích. Tầng này gần giống với tầng physical của ISO. Internet :Thực hiện một hệ thống mạng có khả năng chuyển các gói dữ liệu dựa trên lớp mạng Connetionless(không cầu nối) hay Connection- Oriented(có cầu nối) tuỳ theo từng loại dịch vụ mà người ta dùng một trong hai cách trên. Transport : được thiết kết cho các phần tử ngang cấp(hay host) có thể đối thoại với nhau thông qua một trong hai protocol sau đây. TCP: là một Connection Oriented Protocol, cho phép chuyển một chuỗi byte từ host này sang host kia mà có thông báo trả về. UDP: là một Connetionless protocol xây dựng cho các ứng dụng không muốn sử dụng cách truyền theo thứ tự của TCP mà muốn tự mình thực hiện điều đó và không có thông báo trả về nghĩa là nó không đảm bảo dữ liệu được truyền đi chính xác hay không.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/09/2025
Đồ án tốt nghiệp tổng quan về mạng và các dịch vụ thông dụng trên internet

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG VÀ CÁC DỊCH VỤ THÔNG DỤNGTRÊN INTERNET [ SVTH : Trương Minh Tuyến Trang 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mailling System I. Động lực thúc đẩy sự ra đời mô hình mạng Client/Server : - Ngày nay với xu hướng mạng toàn cầu hoá, thì sự liên lạc thông tin qua lại giữa các máy theo mô hình Client/Server là một trong những ứng dụng quan trong cơ bản về mạng và nó không thể thiếu trong hệ thống liên lạc thông tin hiện nay. Có rất nhiều dịch vụ hỗ trợ trên Internet theo mô hình này như e-mail, web, FPT, nhóm tin Usernet, telnet, truyền tập tin, đăng nhập từ xa, chat,… Các chương trình dịch vụ ở trình khách(Client) sẽ kết nối với trình chủ ở xa(Server) sau đó gởi các yêu cầu đến trình chủ và trình chủ sẽ xử lý yêu cầu này sau đó gởi kết quả về cho trình khách. Thông thường trình chủ phục vụ cho rất nhiều trình khách đến cùng một lúc.

- Vào những thập niên 90, khi bắt đầu bùng nổ sự truy cập Web cũng như mạng hoá trong các lĩnh vực của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam chúng ta. Một vấn đề đặt ra cho các nhà lập trình, các nhà quản lý và nhiều hơn nữa là những người sử dụng máy tính điều có thể truy cập thông tin trên Intranet hay Internet nhanh chóng, chính xác mà các thông tin hay dữ liệu này vẫn được an toàn. Lập trình mạng theo mô hình Client/Server sẽ là giải pháp an toàn cho các nhà lập trình. Nguyên tắc hoạt động mạng theo mô hình client/Server : - Mạng Client/Server đơn thuần chỉ có một tiêu chuẩn cơ bản là không có một Client nào sử dụng tài nguyên của một Client khác.

Tài nguyên dùng chung (tài nguyên chính) được đặt trên một hay nhiều Server chuyên dụng theo từng dịch vụ như E-mail, file server, chat, Web, fpt,…hay nói một cách khác những Client không bao giờ nhìn thấy nhau mà chỉ giao tiếp với Server. Mô hình Client/Server này rất hữu dụng trong các công ty hay những tổ chức cần đến việc quản lý tài nguyên hay người sử dụng một cách hiểu quả. - Thuật ngữ Server dùng để chỉ bất kỳ chương trình nào hỗ trợ dịch vụ có thể truy xuất qua mạng. Một Server nhận yêu cầu qua mạng thực hiện cho một dịch vụ nào đó và trả kết quả về cho nơi yêu cầu.

Với những dịch vụ đơn giản nhất, mỗi yêu cầu gửi đến chỉ trong một địa chỉ IP datagram và Server trả về lời đáp trong một datagram khác. Các Server có thể thực hiện những công việc đơn giản nhất đến phức tạp nhất. Ví dụ như time-of-day Server chỉ đơn giản trả về giờ hiện hành bất cứ khi nào Client gởi tới Server này thông tin. Hay một Web Server nhận yêu cầu từ một trình duyệt (Borwser) để lấy một bản sao của trang web, Server sẽ lấy bản sao của tập tin trang web này trả về cho trình duyệt.

- Mô hình Client/Server thực hiện việc phân tán xử lý giữa các máy tính. Về bản chất là một công nghệ được chia ra và xử lý bởi nhiều máy tính, các máy tính được xem là Server thường được dùng để lưu trữ tài nguyên để nhiều nơi truy xuất vào. Các Server sẽ thụ động chờ để giải quyết các yêu cầu từ Client truy xuất đến chúng. Thông thường, các Server được cài đặt như một chương trình ứng dụng.

Vì vậy ưu điểm của việc cài đặt các Server như những chương trình ứng dụng là chúng có thể xử lý trên hệ máy tính bất kỳ nào hỗ trợ thông tin liên lạc theo giao thức TCP/IP hay một giao thức thông dụng khác. Như thế, Server cho một dịch vụ cụ thể có thể chạy trên một hệ chia thời gian cùng với nhưng chương trình khác, hay nó có thể xử lý trên cả máy tính cá nhân. SVTH : Trương Minh Tuyến Trang 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mailling System - Một chương trình ứng dụng trở thành Client khi nó gởi yêu cầu tới Server và đợi lời giải đáp trả về. Cũng vì thế mà mô hình Client/Server là sự mở rộng tự nhiên của tiến trình thông tin liên lạc trong nội bộ máy tính và xa hơn nữa là Intarnet/Internet.

Ứng dụng đầu tiên của mô hình Client/Server là ứng dụng chia sẻ file(do các tổ chức có nhu cầu chia sẻ thông tin giữa các bộ phận trong tổ chức được dễ dàng và nhanh chóng hơn). Trong ứng dụng này thông tin được chứa trong các file đặt tại máy Server của một phòng ban nào đó. Khi một phòng ban khác có nhu cầu trao đổ thông tin với phòng ban này thì sẽ sử dụng một máy tính khác(Client) kết nối với Server và tải nhưng file cần thiết về máy Client. Tóm lại : + Nhiệm vụ của máy Client : là thi hành một dịch vụ cho người dùng, bằng cách kết nối với những chương trình ứng dụng ở máy Server, dựa vào những chuỗi nhập để chuyển yêu cầu đến Server và nhân kết quả trả về từ Server hiển thị thông tin nhân được cho người dùng.

+ Nhiệm vụ của máy Server : luôn lắng nghe những kết nối đến nó trên những cổng liên quan đến giao thức mà Server phục vụ. Khi máy Client khởi tạo kết nối, máy Server chấp nhận và tạo ra luồng riêng biệt phục vụ cho máy Client đó. Ngoài ra máy Server phải quản lý các hoạt động của mạng như phân chia tài nguyên chung(hay còn gọi là tài nguyên mạng) trong việc trao đổi thông tin giữa các Client,… Máy Server có thể đóng vai trò là máy trạm (Client) trong trường hợp này gọi là máy Server “không thuần tuý”. Server phải đảm bảo được hai yêu cầu cơ bản nhất đối với chức năng Server : cho phép truyền dữ liệu nhanh chóng và bảo đảm tính an toàn, bảo mật và không mất mát dữ liệu.

+ Có thể nói mô hình Client/Server là mô hình ảnh hưởng lớn nhất tới ngành công nghệ thông tin. Mô hình này đã biến những máy tính riêng lẻ có khả năng xử lý thấp thành một mạng máy chủ(Server) và máy trạm(Workstation) có khả năng xử lý gấp hàng ngàn lần những máy tính mạnh nhất. Mô hình này còn giúp cho việc giải quyết những bài toán phức tạp một cách dễ dàng hơn, bằng cách phân chia bài toán lớn thành nhiều bài toán con và giải quyết từng bài toán con một. Nhưng quan trọng hơn hết, không phải là việc giải được các bài toán lớn mà là cách thức giải bài toán.

+ Ưu điểm: - Các tài nguyên được quản lý tập trung. - Có thể tạo ra các kiểm soát chặt chẽ trong truy cập file dữ liệu. - Giảm nhẹ gánh nặng quản lý trên máy Client. - Bảo mật và back up dữ liệu từ Server.

+ Nhược điểm: - Khá đắt tiền so với mạng ngang hàng(peer), chủ yếu do giá để lắp đặt một Server khá cao. - Server trở thành điểm tối yếu của hệ thống, nghĩa là khi Server hỏng thì toàn bộ hệ thống sẽ chết, do đó tính năng đề kháng lỗi là một trong những yêu cầu quan trọng trong mô hình này. SVTH : Trương Minh Tuyến Trang 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mailling System III.Các khái niệm cơ bạn về mạng : - Ngày nay, chúng ta đã quá quen thuộc về mạng điện thoại trong việc trao đổi thông tin, tương tự mạng trong máy tính cũng sử dụng một số nguyên tắc cơ bản sau. + Bảo đảm thông tin không bị mất hay thất lạc trên đường truyền.

+ Thông tin được truyền nhanh chóng và kịp thời. + Các máy tính trong cùng một mạng phải nhận biết nhau. +Cách đặt tên trên mạng cũng như cách xác định các đường truyền trên mạng phải tuân theo một chuẩn thống nhất. - Các nguyên tắc trên có vẽ rất cơ bản nhưng nó hết sức quan trọng.

Nhưng tại sao cần phải nối mạng? có nhiều lý do nhưng có thể kể các lý do sau: + Tăng hiệu quả làm việc. + Xây dựng mô hình làm việc thống nhất tập trung cho tất cả mọi người sử dụng mạng. + Cho phép đưa tất cả các vấn đề cần giải quyết lên mạng dưới dạng thảo luận theo quan điểm phóng khoáng, thoải mái hơn là phải đối thoại nhau trong một không khí gò bó. + loại bỏ các thông tin thừa, trùng lặp.

- Mạng có thể đơn giản chỉ gồm hai máy tính bằng cáp qua cổng máy in để truyền file, phức tạp hơn thì hiện nay có thể chia mạng ra thành các loại sau: + Mạng cục bộ(LAN-Wide Area Network) : là mạng đơn giản nhất trong thế giới mạng, là một hệ thống bao gồm các nút là các máy tính nối kết với nhau bằng dây cáp qua card giao tiếp mạng trong phạm vi nhỏ tại một vị trí nhất định. Tuỳ theo cách giao tiếp giữa các nút mạng, người ta chia làm hai loại : • Mạng ngang hàng (peer to peer [Windows workgroups]) : là một hệ thống mà mọi nút đều có thể sử dụng tài nguyên của các nút khác. Nghĩa là các máy tính trên mạng đều ngang nhau về vai trò, không có máy nào đóng vai trò trung tâm.1 : Marry đang truy xuất tài nguyên qua mạng • Mạng khách chủ (client/server) : có ít nhất một nút trong mạng đảm nhiệm vai trò trạm dịch vụ (server) và các máy khác là trạm làm việc (workstation) sử dụng tài nguyên của các trạm dịch vụ. Server chứa hầu hết tài nguyên quan trọng của mạng và phân phối tài nguyên này tới các Client.

SVTH : Trương Minh Tuyến Trang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mailling System Hình 1.2 : Mô hình mạng Client/Server. + Mạng đô thị(Metropolitan Area Networks - viết tắt là Man): Là mạng đặt trong phạm vi một đô thị hoặc một trung tâm kinh tế-xã hội có bán kính khoản 100km trở lại. Là mạng chỉ với một đường truyền thuê bao tốc độ cao qua mạng điện thoại hoặc thông qua các phương tiện khác như radio, microway, hay các thiết bị truyền dữ liệu bàng laser. MAN cho phép người dùng mạng trên nhiều vị trí địa lý khác nhau vẫn có thể truy cập các tài nguyên mạng theo cách thông thường như ngay trên mạng LAN.

Tuy nhiên nhìn trên phương diện tổng thể MAN cũng chỉ là mạng cục bộ. + Mạng diện rộng(WAN – Wide Area Networks): phạm vi của mạng vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả lục địa. WAN có nhiệm vụ kết nối tất cả các mạng LAN và MAN ở xa nhau thành một mạng duy nhất có đường truyền tốc độ cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ