Mở đầu Trung tâm dữ liệu là một hệ thống trung tâm, là môi trường tích hợp hệ thống chuyên dụng về phần cứng và các chương trình phần mềm, nơi cung cấp các dịch vụ lưu trữ dữ liệu và các ứng dụng đảm bảo tính an toàn trong việc trao đổi thông tin, nơi hợp nhất dữ liệu của người sử dụng để giảm thiểu chi phí quản lý chung về công nghệ thông tin của doanh nghiệp. Nói một cách chung nhất, Trung tâm dữ liệu được xây dựng nhằm đáp ứng các nhu cầu: - Khi doanh nghiệp ngày càng phát triển nhu cầu tập trung dữ liệu để quản lý và cung cấp cho nhiều chi nhánh của công ty là yêu cầu vô cùng cần thiết. - Các dịch vụ trên Internet cần tập trung để xử lý một lượng thông tin cực lớn yêu cầu cần có một hệ thống có đủ sức mạnh xử lý và hệ thống Trung tâm dữ liệu ra đời để đáp ứng các nhu cầu đó. - Kinh tế cũng là vấn đề được đặt ra khi triển khai hệ thống Trung tâm dữ liệu với chi phí rất lớn nhưng lại rất vcần tiết kiệm các chi phí quản lý và bảo dưỡng hệ thống.
Việc gộp nhiều hệ thống để có được khả năng xử lý tốt hơn cũng mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Ngoài ra, chúng ta cũng cần hiểu rõ hơn về tính năng của trung tâm dữ liệu để thấy được khả năng cũng như sức mạnh của hệ thống này, những tính năng đó là: - Nơi tích hợp tất cả các công nghệ hàng đầu về mạng, hệ thống và phần mềm ứng dụng. - Mạng được thiết kế dành riêng đáp ứng yêu cầu cực cao về tốc độ truyền giữa các thiết bị, tính ổn định được coi trọng và vấn đề bảo mật cho hệ thống mạng được đặt lên hàng đầu. Trung tâm dữ liệu được cấu hình tối ưu, khi một kết nối gặp trục trặc thì hệ thống vẫn hoạt động bình thường với các kết nối luôn ở tốc độ cao.
12 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật - Với hệ thống máy chủ có hiệu năng cao đáp ứng các ứng dụng chạy trên nó với độ trễ nhỏ nhất, thời gian đáp ứng thấp nhất, hỗ trợ nhiều ứng dụng và cấu hình hoàn hảo giúp hệ thống chạy 24/7. - Các phần mềm hỗ trợ sử dụng tối đa hiệu năng của phần cứng, giúp liên kết các máy chủ với Cluster tăng sức mạnh cho máy chủ và khả năng backup dữ liệu khi có sự cố xảy ra chỉ trong một thời gian ngắn hệ thống có thể đi vào hoạt động như bình thường và dữ liệu được bảo vệ không bị mất.1 Mô hình tổng quát của trung tâm dữ liệu 1. Kiến trúc mạng trung tâm dữ liệu 1. Kiến trúc trung tâm dữ liệu Các trung tâm dữ liệu được xây dựng theo cấu trúc phân lớp.
Thông thường một trung tâm dữ liệu có ba lớp chính: - Lớp Edge: Tập hợp các server quản lý bởi một Switch và Switch này được gọi là Top of Rack Switch. 13 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật - Lớp Aggregation: Tập hợp các Switch hoặc Router kết nối với lớp Edge và Core. - Lớp Core: Tập hợp các Core kết nối với lớp Aggregation và mạng Internet Hình 1.2 Mô hình Trung tâm dữ liệu ba lớp Trong một trung tâm dữ liệu ba lớp thì các yêu cầu từ các server trong một rack được chuyển đến Switch ở Edge sau đó chuyển đến Switch hoặc Router ở Aggregation rồi chuyển đến Router ở Core đi đến mạng Internet. Các thiết bị ở lớp Core ít hơn và đắt tiền hơn ở lớp Edge và Aggregation.
Số lượng link kết nối ở lớp Aggregation lớn hơn rất nhiều ở lớp Core. Ngày nay các trung tâm dữ liệu có quy mô rất lớn chứa tới hàng nghìn các thiết bị mạng khác nhau như switch, server… và ngày càng được mở rộng về quy mô lẫn số lượng. Mục đích của mạng lưới trung tâm dữ liệu là kết nối số lượng lớn các server với nhau, cung cấp các dịch vụ đinh tuyến hiệu quả và có khả năng chống lỗi cho các tầng ứng dụng ở lớp cao hơn. Các kiểu kiến trúc mạng truyền thống (kiến trúc 2N) có rất nhiều vấn đề như khả năng mở rộng thấp, xảy ra mất mát lớn khi bị lỗi ở một điểm.
Gần đây có nhiều kiến trúc nâng cao được đưa ra để thay thế điển hình là các kiểu kiến trúc Fat-Tree, BCube. 14 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Hình 1.3 Kiến trúc của một trung tâm dữ liệu điển hình. Kiến trúc này được xây dựng với các rack chứa các server, thiết bị mạng trong rack. Các rack liến kết trực tiếp với các switch tầng dưới, các switch tầng dưới liên kết với các switch tầng trên, tầng trên liên kết với các core switch.
Một số topology thường dùng trong trung tâm dữ liệu: Bcube [4] Hình 1.4 Topology Bcube • BCube 0: n sever kết nối với 1 switch n port. • BCube 1: xây dựng từ n BCube0 và n switch n port. • BCube k: xây dựng từ n Bcube k-1 và nk switch n port. • Mỗi server trong BCubek có (k+1) port (được đánh số từ level 0 đến level k).
• BCube k có: N= nk+1 server (k+1) level switch, mỗi level có n k swicth n port 15 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Dcell [5] Hình 1.5 Topology DCell Sử dụng các server được trang bị nhiều cổng mạng và các mini-switch để xây dựng cấu trúc đệ quy. DCell0 là khối cơ bản để xây dựng các DCell lớn hơn. Nó gồm n server và 1 mini-switch. Giao tiếp server 2 chiều giữa bất kỳ 2 server nào trong các DCell khác nhau.
DCell ở 1 cấp được kết nối với DCell cùng cấp và với các node ở cấp trên. Yêu cầu số lượng cáp lớn Giả sử có k mức DCell, n server cho DCell 0. Ta có: g k = tk-1 + 1 t k = gk * tk-1 Trong đó: g k : số DCellk-1 có trong DCellk t k : số server trong 1 DCell k Ví Dụ: với k=3 và n= 6 thì DCell có thể phục vụ khoảng 3. 16 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật VL2 [1] Core switch và Aggregation swicth kết nối với nhau tạo thành đồ thị 2 phía đầy đủ.6 Topology VL2 - Định tuyến Link State - IP anycast: dữ liệu được chuyển đến nút topo gần nhất hoặc tốt nhất.
Dùng định tuyến ECMP (Equal Cost Multi-Path Routing: Nhiều đường đi cùng chi phí), cùng chi phí cho tất cả các điểm đến. - VL2 sử dụng 2 họ địa chỉ: o Location specific IP Address (LAs): tất cả các switch và interface được gán cho LAs, sử dụng giao thức định tuyến link-state. o Application-specific IP Address (AAs) : sử dụng cho các ứng dụng.7 Topology Fattree (Portland) 17 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật - Aggregation swicth và Access switch kết nối với nhau tạo thành đồ thị 2 phía đầy đủ. - Sử dụng Fat tree topology và khái niệm Pod.
Thiết kế định tuyến và chuyển tiếp cụ thể cho từng fat tree topology thay vì cho topo chung. Luận văn này làm việc với topology dạng FatTree với các openflow switch, bộ điều khiển NOX trong môi trường giả lập Mininet. Kiến trúc Fat-Tree có nhiều ưu điểm về định tuyến chống lỗi tầng 2.5 sử dụng P-MAC, khả năng truyền lưu lượng đầy 2 chiều (full biserction bandwith). Kiến trúc này được xây dựng dựa trên các switch k-port, thường nghiên cứu với kiến trúc 3-stages Fat-Tree.
Trong kiến trúc này hỗ trợ kết nối giữa /4 host, sử dụng 5 4 switchs k-port. Fattre được chia ra làm k pod mỗi pod có chứa 4 host, số core switch là 4 số aggregation switch bằng số edge switch là /2.8 Kiến trúc Fat-Tree 3 lớp với k=4. Một trong những vấn đề nổi bật đang được nghiên cứu gần đây là tìm ra giải pháp tiết kiệm nguồn năng lượng khổng lồ mà các trung tâm dữ liệu đang tiêu thụ. Đặc biệt thông qua nghiên cứu các kiến trúc đồ hình mới, các thuật toán tối ưu đồ hình, các thuật toán định tuyến nhận thức năng lượng.
Thông thường các trung tâm dữ liệu được thiết kế có khả năng chịu tải trong cả những trường hợp xấu nhất (tải tăng lên đột ngột), và trong các giờ cao điểm có nhiều người dùng. Trong còn lại phần lớn thời gian thì mức tải sử dụng thấp hơn mức đỉnh rất nhiều đặc biệt là sự khác biệt rất lớn về lưu lượng tải sử dụng giữa ngày và đêm. Lưu lượng thường lên 18 Nguyễn Ngọc Anh – KTTT1 – 2011B Luận văn thạc sĩ kỹ thuật mức đỉnh vào ban ngày và hạ xuông rất thấp vào ban đêm. Khi lưu lượng thấp các thiết bị mạng vẫn đang ở trạng thái hoạt động, điều này gây ra tiêu tốn nhiều năng lượng không cần thiết để chạy các thiết bị mà không có lưu lượng chảy qua.
Theo một nghiên cứu cho thấy năng lượng tiêu thụ bởi các trung tâm dữ liệu ở mỹ năm 2006 khoảng 3 tỷ kWh. Đã có nhiều nỗ lực chế tạo ra các thiết bị mạng nhận thức năng lượng, tức là các thiết bị này tự chuyển sang trạng thái idle khi không có lưu lượng để tiết kiệm năng lượng, nhưng năng lượng tiêu thụ chưa giảm đi đáng kể đặc biệt tại thời điểm lưu lượng thấp nhấp vẫn tiêu thụ tới 90% so với mức đỉnh. Nguyên nhân do vẫn có phần lớn năng lượng phải tiêu thụ cho các thiết bị khác như hệ thống làm lạnh server, line-cards.9 Lưu lượng thống kê trong 1 ngày ở NET NAM Mục đích chính trong nghiên cứu của nhóm là tìm ra giải pháp tiết kiệm năng lượng tiêu thụ trong các trung tâm dữ liệu bằng cách tiến hành bật tắt các switch trong mạng khi không cần thiết dựa trên nền công nghệ OpenFlow. Đồng thời với việc tắt bật các switch là phải đảm bảo cho hiệu năng của mạng không được gây ra mất mát dữ liệu, ảnh hưởng nhiều đến sự hoạt động hoặc gây ra sự cố trong mạng.
Phương pháp thực hiện là tiến hành tối ưu đồ hình mạng dựa vào lưu lượng chảy bên trong mạng, sau đó chuyển các switch không cần thiết sang trạng thái ngủ hoặc tắt để tiết kiệm năng lượng. Khối điều khiển sẽ gửi đồ hình đã được tối ưu cho khối định tuyến để định tuyến các luồng một cách hợp lý theo đồ hình mới này.