Chương I của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATLĐ trong khai thác và chế biến đá (Quy chuẩn Việt Nam số 05:2012/BLĐTBXH ban hành kèm theo thông tư 02/2012/TT-BLĐTBXH ngày 08 tháng 01 năm 2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATLĐ trong khai thác và chế biến đá) [4]. Cụ thể gồm các yêu cầu chung sau: Chỉ cấp phép khai thác, chế biến đá ở những địa điểm đảm bảo bán kính an toàn trong quá trình nổ mìn và chế biến đá [4]. Các tổ chức, cá nhân và mọi người lao động tiến hành khai thác và chế biến đá đều phải thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Các đơn vị phải có các chức danh sau đây (về tiêu chuẩn, trình độ, năng lực cán bộ theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước): Giám đốc điều hành mỏ, người chỉ huy nổ mìn, cán bộ chuyên trách (hoặc bán chuyên trách) về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động [4].
Đơn vị khai thác đá phải xây dựng và ban hành nội quy lao động của mỏ theo quy định của pháp luật về lao động. Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với các tiêu chuẩn, quy trình, quy chuẩn về an toàn lao động và vệ sinh lao động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [4]. Đối với người lao động phải có đủ sức khỏe và được khám sức khỏe định kỳ hàng năm theo quy định hiện hành của cơ quan y tế có thẩm quyền. Không được tiếp nhận người không đủ sức khỏe theo tiêu chuẩn quy định đối với công việc đang đảm nhận [4].
Người lao động trước khi bố trí công việc tại mỏ phải được huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo quy định; lao động làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải được cấp thẻ an toàn lao động [4]. Đối với đơn vị khai thác đá phải đảm bảo: Mỏ khai thác phải có đường lên xuống núi để công nhân đi lại thuận lợi, an toàn. Khi độ dốc của đường lớn hơn 300 phải có lan can chắc chắn [4]. 7 Phải có phương tiện chuyên chở phù hợp cho người đi làm phải qua sông, suối, hồ trong mặt bằng thi công.
Các phương tiện chuyên chở bằng đường thủy phải đảm bảo an toàn theo quy định đăng kiểm Việt Nam hiện hành [4]. Có đầy đủ tài liệu địa chất, thiết kế thi công, hộ chiếu khoan, nổ mìn và hộ chiếu xúc, bốc, vận tải. Về phía người sử dụng lao động và người lao động phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định hiện hành của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ hiện hành [4]. Đặc biệt chú trọng những điểm sau: [14].
Việc sử dụng lao động phải thực hiện các chế độ bảo hộ lao động cho người lao động như: trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác có liên quan; tại những khu vực nguy hiểm, phải có biển báo, bảng chỉ dẫn an toàn, đề phòng tai nạn được đặt tại vị trí dễ thấy, dễ đọc. Các vị trí đặt thiết bị, trạm điện, trạm bơm … phải có nội quy vận hành và nội quy an toàn lao động [19]. Về nhà cửa, công trình trong phạm vi công trường phải theo đúng các yêu cầu quy định về phòng chống cháy nổ; nơi ăn, ở của công nhân phải cách ly với khu vực sản xuất và chế biến đá, nằm ngoài bán kính của vùng nguy hiểm khi nổ mìn đã được quy định trong thiết kế và không ở cuối hướng gió chính trong năm [19]. Khi có nguy cơ xảy ra sự cố về an toàn lao động, phải thực hiện ngay các biện pháp cần thiết để loại trừ; khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động, giám đốc điều hành mỏ phải thực hiện ngay các biện pháp khẩn cấp để loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố; cấp cứu, sơ tán người ra khỏi vùng nguy hiểm; kịp thời báo cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; bảo vệ tài sản, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật [19].
Người sử dụng lao động phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất về an toàn lao động và vệ sinh lao động theo quy định. Tất cả các trường hợp tai nạn lao động, sự cố có liên quan đến người lao động phải được khai báo, điều tra, xử lý, thống kê theo các quy định của pháp luật hiện hành [19]. Khi giao việc mỗi ca, cán bộ chỉ huy (đội trưởng, quản đốc, cán bộ quản lý …) phải ghi Sổ phân công hoặc Phiếu giao việc/ Nhật lệnh sản xuất cho từng công nhân làm việc độc lập hoặc tổ, đội sản xuất, trong đó phải ghi đầy đủ và cụ thể biện pháp 8 an toàn - vệ sinh lao động. Người giao việc và người nhận việc phải ký vào sổ hoặc phiếu [4].
Việc bố trí người vào làm việc, cán bộ trực tiếp chỉ đạo sản xuất (tổ trưởng, đội trưởng, quản đốc) phải xem xét cụ thể hiện trường, nếu đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động mới bố trí công việc [4]. Về phía người lao động phải sử dụng đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân được trang cấp, chấp hành nghiêm chỉnh những quy định an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Khi phát hiện thấy hiện tượng nguy hiểm, bản thân phải tích cực đề phòng và báo ngay cho cán bộ phụ trách biết để có biện pháp giải quyết kịp thời. Người lao động có quyền từ chối hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe của mình [4].
Ngoài những điều quy định trong quy chuẩn này, các cơ sở khai thác và chế biến đá phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường có liên quan [4]. Tai nạn lao động trong khai thác, chế biến đá 2. Một số khái niệm liên quan đến tai nạn lao động. Tai nạn lao động: là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong [3].
Bao gồm: Thứ nhất là tai nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Thứ hai là các tai nạn lao động xảy ra trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sự phân công của người sử dụng lao động hoặc người được sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động. Thứ ba là các tai nạn lao động xảy ra đối với người lao động khi đang thực hiện các nhu cầu cần thiết mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở cho phép (nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, cho con bú, tắm rửa, đi vệ sinh) [3]. Định nghĩa trên cho thấy các trường hợp tai nạn xảy ra trong quá trình sản xuất, những tai nạn liên quan đến sản xuất đều coi là TNLĐ.
9 Nhưng trong nghiên cứu này TNLĐ chỉ đề cập đến những tai nạn do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình thực hiện công việc tại mỏ đá, các chấn thương này gây ra có nghỉ việc hay không nghỉ việc đều được ghi nhận trong nghiên cứu. Trong nghiên cứu không đề cập đến những TNLĐ xảy ra đối với người lao động khi đang thực hiện các nhu cầu cần thiết như nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, cho con bú, tắm rửa, đi vệ sinh, trên đường đi làm. Điều kiện lao động (ĐKLĐ): là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của NLĐ và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làm việc (ĐKLV) của con người trong quá trình lao động sản xuất [16]. Phân loại tai nạn lao động: Có thể phân loại tai nạn lao động dựa theo các tiêu chí khác nhau như phân loại theo nguyên nhân, theo ngành nghề sản xuất, theo độ tuổi và giới tính, theo mức tổn thương đến cơ thể con người.
Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến phân loại tai nạn lao động theo mức tổn thương đến cơ thể con người: được phân thành 3 loại tai nạn lao động như sau: Thứ nhất tai nạn lao động chết người là tai nạn mà người bị nạn chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn hoặc chết trên đường đi cấp cứu; chết trong thời gian cấp cứu; chết trong thời gian điều trị; chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động gây ra. Thứ hai tai nạn lao động nặng là tai nạn mà người bị nạn bị ít nhất một trong những chấn thương được quy định trong Danh mục các chấn thương để xác định loại tai nạn lao động nặng (Ban hành kèm theo thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT- BLĐTBXH-BYT ngày 21/05/2012 của Bộ Lao động – Thương binh - Xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn việc khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động. Chủ yếu gây trầy, xước da, không ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể. Các yếu tố nguy cơ gây TNLĐ trong khai thác, chế biến đá.
Các yếu tố nguy cơ gây TNLĐ trong điều kiện lao động. Điều kiện lao động bao gồm rất nhiều yếu tố nguy cơ gây tai nạn lao động như: tiếng ồn, nhiệt độ, vi khí hậu xấu, máy móc, các trang thiết bị, vấn đề về điện, vấn đề về hóa chất, nguy cơ trượt, ngã. Vấn đề về tiếng ồn: những nơi có tiếng ồn dễ trở nên nguy hiểm vì tiếng ồn át các tín hiệu báo động, khó nghe các chỉ dẫn, làm mất tập trung, gây căng thẳng liên tục, mệt mỏi. Ngoài ra, bản thân tiếng ồn lớn (trên 130dBA) có thể gây tai nạn do ồn (thủng màng nhĩ) [4].