Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài. Chương II : Thực trạng tác động của các thiết chế đến hội tụ công nghệ số Truyền hình Việt Nam. Chương III : Những giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình hội tụ công nghệ số Truyền hình Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Thiết chế Thứ nhất, theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thiết chế xã hội được khái quát như sau (tham khảo tại địa chỉ trang web : http://vi.org/wiki/Thi%E1%BA%BFt_ch%E1%BA%BF_x%C3% A3_h%E1%BB%99i) Các quan hệ xã hội được hình thành từ những tương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng. Trong quá trình tương tác này các khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết kế hóa, tức là biến thành các thiết chế. Như vậy, các nhóm, các tổ chức hay bản thân từng cá nhân chỉ như là những tập hợp người thực hiện các thiết chế mà thôi, chứ không phải là chính thiết chế. Khi nói đến thiết chế, người ta thường hiểu là thiết chế xã hội.
Thiết chế xã hội được hiểu là một hệ thống những quy tắc, giá trị và cấu trúc nhắm tới một mục đích xác định, là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên một loạt các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội công khai thừa nhận nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội. Thiết chế xã hội là hình thức cộng đồng và hình thức tổ chức của con người trong quá trình tiến hành các hoạt động xã hội. Thiết chế xã hội chính là các ràng buộc mọi cá nhân, nhóm cộng đồng và toàn thể xã hội chấp nhận và tuân thủ. Có 2 dạng thiết chế xã hội : thiết chế tự nguyện (các quy định của giá trị xã hội) và thiết chế bắt buộc (buộc phải tuân theo).
Cũng giống như nhiều khái niệm khác của xã hội học, nội hàm của thiết chế xã hội cũng chưa được xác định một cách rõ ràng. Sự nhầm lẫn phổ biến nhất là việc đồng nhất thiết chế xã hội với một nhóm thực, tổ chức thực nào đó. Lý do của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rất trừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình. Các nhà xã hội học đều cho rằng thiết chế xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển là do nó đáp ứng nhu cầu xã hội.
Nhu cầu xã hội là nguyên nhân 15 z hình thành, đồng thời nó cũng là mục đích tồn tại của thiết chế xã hội. Tất cả mọi xã hội bao giờ cũng có những nhu cầu cơ bản, mà việc thỏa mãn chúng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của bản thân xã hội. Các nhu cầu xã hội cơ bản như sau : Giao tiếp giữa các thành viên; Sản xuất và sản phẩm dịch vụ; Phân phối các sản phẩm và dịch vụ hàng hóa; … Thiết chế xã hội vốn là những mô hình hành vi được đa số thừa nhận là chuẩn và thực hiện theo, do đó các cá nhân sẽ không mất thời gian để suy tính, đắn đo xem cách thức hành động đó là đúng hay sai để thực hiện hay không thực hiện. Nói cách khác, thiết chế đã đơn giản hóa tác phong hành động, lề lối tư duy của cá nhân.
Mọi thành viên hành động theo thiết chế một cách tự động hóa. Thiết chế xã hội cũng là tập hợp các vai trò đã được chuẩn hóa - Đó chính là các vai trò mà mọi cá nhân cần phải học để thực hiện thông qua quá trình xã hội hóa. Nghĩa là, thiết chế cung cấp cho cá nhân những vai trò có sẵn. Ví dụ, thiết chế gia đình cung cấp cho cá nhân những vai trò bố mẹ, con cái,.; thiết chế giáo dục cung cấp cho cá nhân các vai trò thầy, học sinh,.
chứ không phải do cá nhân sáng tạo nên các vai trò này. Nếu căn cứ tầm quan trọng, có thể phân chia thành 2 loại thiết chế : Thiết chế chủ yếu - thiết chế cần thiết nhất cho xã hội và được coi là quan trọng nhất cho lợi ích cá nhân và xã hội, và bao gồm các thiết chế sau : Thiết chế gia đình; Thiết chế giáo dục; Thiết chế kinh tế; Thiết chế chính trị; Thiết chế tôn giáo. Thiết chế phụ thuộc - những thiết chế nhỏ bé và khác biệt nhau, nằm trong thiết chế chủ yếu. Thứ hai, cần nhấn mạnh rằng, thiết chế được hiểu theo âm Hán Việt với nghĩa là cấu trúc và chế định.
Nói theo ngôn ngữ của các nhà nghiên cứu lý thuyết nhóm và lý luận văn hóa, đó là tiếp cận cấu trúc – chức năng – một thời thịnh trị, thậm chí ở Mỹ. Sự xuất hiện của lý thuyết xung đột ( Veber, Các-Mác) đã làm mất đi tính “bắt buộc” phải thực hiện của các quy định như trên đã trình bày. Nói như vậy có nghĩa là thiết chế phải bao gồm cấu trúc, 16 z chức năng của mỗi cơ cấu, mối liên hệ của các cơ cấu và luôn phải hoàn thiện để phát triển trên cơ sở “cầu đồng tồn dĩ” theo nguyên tắc của tiếp cận cấu trúc – chức năng và tiếp cận xung đột (mâu thuẫn). Trên cơ sở 2 cách nhìn trên, trong khuôn khổ luận văn này, thiết chế được hiểu là cơ cấu và các quy định để thực hiện mục tiêu của một nhóm xã hội hay một tổ chức trong môi trường thống nhất giữa các xung đột.
Trong trường hợp công nghệ hội tụ số của đài truyền hình Việt Nam : mục tiêu là thúc đẩy hội tụ số được thống nhất giữa các bộ phận hợp thành trong sự xung đột giữa lạc hậu và tiên tiến, giữa đổi mới và chống lại đổi mới trong các quy định về quy chế tài chính, chia sẻ thông tin và cung cách quản lý v.v…Các phần tiếp theo của luận văn đều được tiến hành theo mặt cắt này. Công nghệ Công nghệ được hiểu và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Công nghệ xuất hiện khá nhiều và gắn với nhiều lĩnh vực : công nghệ thông tin, công nghệ giáo dục, công nghệ đào tạo, công nghệ du lịch, công nghệ quản lý, công nghệ sản xuất, công nghệ chế biến, công nghệ bao bì,. Định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ chính là : “Công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra”.
Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (United Nation‟s Industrial Development Organization - UNIDO): “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp” [1,tr. Theo tổ chức ESCAP (Economic and Social Commison for Asia and the Pacific - Ủy ban kinh tế và xã h ội Châu Á - Thái Bình Dương): “Công nghệ là hệ thống kiến thức về qui trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin” [1,tr. Ở Việt Nam, trước đây thường có quan niệm cho rằng: “Công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi” [1,tr. 17 z Luật KH&CN đã định nghĩa về công nghệ như sau : Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm [1,tr.
Đây được coi là cách hiểu chính thống và phổ biến nhất ở Việt Nam, phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ của Nhà nước. Công nghệ truyền hình Nhìn tổng quát, truyền hình là một hệ thống các nhà máy sản xuất và hệ thống phân phối sản phẩm với hàng hóa đặc thù là chương trình truyền hình. Hoạt động truyền hình được phân loa ̣i ra thành các giai đoa ̣n chính như sau : - Giai đoạn chuẩn bị (R&D) : đề xuất ý tưởng chủ đạo về nội dung với việc xác định các mục tiêu và đối tượng khán giả của chương trình. Giai đoạn này cũng bao gồm các bước chuẩn bị về nhân sự ( ê-kíp thực hiện), kỹ thuật, dự toán kinh phí,… - Giai đoạn tiền kỳ : Sau khi đã được duyệt thực hiện, giai đoạn thu thập các “nguyên vật liệu” để chuẩn bị cho quá trình sản xuất bắt đầu.
Nguyên vật liệu ở đây chính là thông tin thô dưới nhiều dạng khác nhau: hình ảnh, âm thanh, văn bản, … Xác định lại công việc, ê-kíp, các yếu tố khác theo kịch bản, kinh phí đã duyệt. - Giai đoạn “hiện trường” : đây là giai đoạn tác nghiệp sản xuất sản phẩm truyền hình ở dạng thô. Tùy theo kịch bản, việc thu hình sẽ diễn ra ở ngoại cảnh hoặc trong phim trường,… - Giai đoạn hậu kỳ sản xuất : Các thông tin tổng hợp được sẽ được đưa vào qui trình xử lý. Kết quả : Thành phẩm chính thức của truyền hình.
- Giai đoạn phân phối : Sản phẩm truyền hình sau khi hoàn thành sẽ được phân phối đến đối tượng tiêu dùng là khán giả. Ngày nay, giai đoạn này được thực hiện với nhiều hình thức : truyền hình số, truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình internet, … và kể cả sản phẩm truyền hình được sao lưu ra ổ cứng, DVD,… để bán. Hoạt động công nghệ truyền hình là các hoạt động về nghiên cứu và phát triển công nghệ , dịch vụ tư vấn , chuyển giao công nghệ , hoạt động khai 18 z thác công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quy trình sản xuất, … Sản phẩm của công nghệ truyền hình từ đó tùy theo từng giai đoa ̣n có thể là: kịch bản truyền hình, dây chuyền sản xuất một chương trình truyền hình, chương trình truyền hình, hệ thống phát hình, mạng lưới truyền dẫn và phát hình, … Sản phẩm công nghệ truyền hình có thể là một sản phẩm vô hình (thông tin, …) hoặc hữu hình (máy móc, thiết bị kỹ thuật, …). Như vậy, các đài truyền hình có 2 chức năng : sản xuất và phân phối.
Giai đoa ̣n sản xuất tập trun g vào việc sản xuất ra sản phẩm có chất lượng nội dung tốt, đáp ứng đúng nhu cầu của nhóm đối tượng khán giả. Giai đoa ̣n phân phối sẽ tập trung vào việc làm sao đưa sản phẩm đến được đúng và nhiề u nhất nhóm đối tượng khán giả. Với bản chất thông tin của sản phẩm truyền hình , hàm lượng tri thức trong sản phẩm rất lớn. Trong giai đoa ̣n sản xuất , yếu tố con người, đóng vai trò quan trọng nhất, thiết bị kỹ thuật chỉ đóng vai trò hỗ trợ mã hóa thông tin (biến đổi hình ảnh, âm thanh thành tín hiệu điện).