CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC TAI CAU TRÚC HỆ THONG TO CHỨC NGHIÊN CỨU - TRIEN KHAI. Một số khái niệm cơ bản trong đề tài nghiên cứu 1. Hoạt động nghiên cứu khoa học 1. Hoạt động đào tạo 1.
Các nguồn lực cho dao tao 1. Chức năng của các Viện nghiên cứu và triển khai 1. Mô hình khoa học tự tri của các Viện nghiên cứu va triển khai trong khuôn khổ các trường đại học ở một số nước 1. Tính tất yếu khách quan của việc tai cấu trúc hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai của Việt Nam theo mô hình khoa học tự trị trong khuôn khổ các trường đại học.
CHƯƠNG II: HIEN TRẠNG HOAT ĐỘNG ĐÀO TẠOTẠI VIEN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIET NAM VÀ 01 VIỆN NGHIÊN CỨU - TRIÊN KHAI DIEN HÌNH 2. Hoạt động đào tạo tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Hoạt động đào tạo của Viện Cơ học CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CHO TAI CẤU TRÚC HE THONG TÔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIEN KHAI. Điểm lại những chính sách liên quan đến đào tạo tại các viện nghiên cứu và triển khai.
Sự cần thiết của việc thực hiện chức năng đào tạo tại các viện nghiên cứu và triển khai. Các giải pháp mang tính vĩ mô của nhà nước dé day mạnh việc tái cấu trúc hệ thống tô chức nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam. Giái pháp tác động đến các viện nghiên cứu và triển khai để tái cấu trúc hệ thông tổ chức nghiên cứu và triển khai theo mô hình khoa học tự trị trong khuôn khô trường đại học. Dự báo phát triển các viện nghiên cứu và triển khai sau khi tái cau trúc.
11 PHAN II: PHAN NOI DUNG CHUONG 1. CO SO LY LUAN CUA VIEC TAI CAU TRUC HE THONG TO CHUC NGHIEN CUU TRIEN KHAI 1. Một số khái niệm cơ bản trong dé tài nghiên cứu 1. Tổ chức nghiên cứu và triển khai - Tổ chức nghiên cứu và triển khai được tổ chức dưới các hình thức: Viện nghiên cứu và triển khai, trung tâm nghiên cứu và triển khai, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm va các cơ sở nghiên cứu và triển khai khác.
- Nhiệm vu của các tô chức nghiên cứu va triển khai: Theo quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, tùy theo phân cấp quản lý hành chính các tô chức nghiên cứu triển khai được chia thành: ° Các tổ chức nghiên cứu triển khai cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm của nhà nước nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả khoa học và công nghệ mới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ. ° Các tổ chức nghiên cứu và triển khai của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được lập ra chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của ngành và địa phương, đảo tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tải về khoa học và công nghệ. ° Tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp cơ sở thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ theo mục tiêu và nhiệm vụ do tô chức cá nhân thành lập xác định. - Co sở ha tang cho các tô chức nghiên cứu va trién khai: các tô chức nghiên cứu và triên khai hình thành và phát triên cân có các nguôn lực sau: 12 Nhân lực khoa học và công nghệ.
Tài chính: nguồn tài chính cho các tổ chức nghiên cứu và triển khai rất đa dạng. Đối với các nước có nền kinh tế đang chuyên đổi như nước ta thì thường có các nguồn sau: ngân sách cấp; thực hiện các nhiệm vụ, các hợp đồng khoa học; tài trợ của các tô chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước; từ lợi nhuận kinh doanh của các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tỉ lệ các nguồn thu này khác nhau đối với các loại hình tổ chức nghiên cứu và triển khai và ở đây cũng là nơi thể hiện chính sách quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ. Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, đất đai.
Các loại hình tổ chức nghiên cứu - triển khai: Viện Hàn lâm khoa hoc: là một tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó bao gồm một tập hợp các viện nghiên cứu khoa học với nhiều hướng chuyên môn khác nhau. Mỗi hướng chuyên môn được tổ chức thành Ban, mỗi Ban gồm một số viện nghiên cứu chuyên ngành. Khu công nghệ cao: là nơi t6 chức các hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao và công nghiệp công nghệ cao gồm: Các tổ chức nghiên cứu và triển khai, các cơ sở đào tạo — huấn luyện, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ cao nhằm tiếp thu, đồng hóa cải tiến các công nghệ được chuyên giao, sáng tạo công nghệ cao mới và sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Các tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp quốc gia: Mô hình tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp quốc gia phổ biến ở các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa, còn những nước theo nền kinh tế thị trường thì hầu như không có mô hình này.
Ở Việt Nam có hai cơ quan thuộc loại hình này là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp bộ và trực thuộc các viện quốc gia gồm có: Viện nghiên cứu cơ bản; viện nghiên cứu chính sách; viện nghiên cứu công nghệ. 13 ° Tổ chức nghiên cứu và triển khai cấp cơ sở: đây là những tổ chức nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp lập ra dé nghiên cứu những van đề kỹ thuật-công nghệ làm cơ sở cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phâm của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh dé tồn tại và phát triển. Khái niệm tái cấu trúc Có nhiều khái niệm về tái cấu trúc: - Restructuring” (thường được dich là “tái cau trúc”) là quá trình tổ chức (re-organize), sắp xếp lại tổ chức nhăm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức đề thực hiện những mục tiêu đề ra.
Mục tiêu chung của tái cau trúc là đạt được một “thé trạng tốt hơn” cho tổ chức dé tô chức hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những nên tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của tổ chức. Tuy vậy, trong nhiều trường họp, tái cau trúc có thé chỉ nhằm mục tiêu đạt được sự “cải thiện vận hành” ở một mảng nào đó trong tổ chức. Một chương trình tái cấu trúc toàn diện sẽ bao trùm hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của tô chức. Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai “cục bộ” tại một hay nhiều mảng của tô chức nhằm dat mục tiêu là nâng cao “thể trạng” của bộ phận đó.
- Tái cau trúc một sự thay đổi trong chiến lược, cơ cấu tô chức hay qui trình công việc. - Tái cấu trúc là quá trình khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức nhằm thực hiện những mục tiêu dé ra trong những điều kiện, hoàn cảnh luôn thay đổi. - Tái cấu trúc một tổ chức thường được đặt ra bới các lý do sau: e Tái cấu trúc xuất phat từ các áp lực bên ngoài dé thích nghi theo môi trường. 14 ° Tái cấu trúc xuất phát từ các áp lực bên trong dé phù hợp theo quy mô tăng trưởng, phát triển của tổ chức.
° Tái cầu trúc xuất phát từ cả hai luồng áp lực bên trong và bên ngoài. - Tái câu trúc một tô chức bao gôm các hoạt động chính sau: ° Điêu chỉnh cơ câu các hoạt động. ° Điêu chỉnh cơ câu tô chức bộ máy. ° Điêu chỉnh cơ câu thê chê: điêu chỉnh các cơ chê, chính sách thông qua sự rà soát, thay đôi hợp lý hóa từ các quy trình công việc đên các quy chê, quy định.
Điêu chỉnh cơ câu các nguôn lực: điêu chỉnh cơ câu đâu tư tạo lập các nguồn lực và tái phân bé sử dụng các nguồn lực. Khái niệm hệ thống Trong các hoạt động của con người, các thuật ngữ như hệ thống triết học, hệ thống pháp luật, hệ thống kinh tế, thông tin đã trở nên quen thuộc. Một cách đơn giản và văn tắt, ta có thể hiểu: Hệ thống là một tập hợp vật chất và phi vật chất như người, máy móc, thông tin, đữ liệu, các phương pháp xử lý, các qui tắc, quy trình xử lý, gọi là các phần tử của hệ thống. Trong hệ thống, các phan tử tương tác với nhau và cùng hoạt động dé hướng tới mục đích chung.
Có thé lựa chọn nhiều cách khác nhau với phạm trù hệ thống. Chang hạn như “hệ thống là các tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên hệ (hay tác động lẫn nhau)” hoặc như “hệ thống, tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một các phức tạp”. Song đúng như V. Cuzơmin trong cuốn Nguyên lý hệ thống trong lý luận và phương pháp luận của C.
Mác đã nhận xét: “dù cho khái niệm hệ thống được xác định theo nhiều cách khác nhau, thì người ta vẫn thường hiểu rằng, hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ôn định và tính chỉnh thé, có những thuộc tính và những quy luật tích hợp”. 15 Theo cách hiểu chung, "hệ thống" là một thé thống nhất nhất bao gồm các các yếu tố có quan hệ và liên hệ lẫn nhau. Mỗi đối tượng trọn vẹn làm một hệ thống, chăng hạn: một cái cây, một con vật, một gia đình v. Nói đến hệ thống, cần phải nói đến hai điều kiện: a) Tập hợp các yếu tố; b) Những mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó.
Cần phân biệt hệ thống với những tập hợp ngẫu nhiên các yếu tô không có quan hệ tất yêu nao đối với nhau. Một đống củi cũng gồm rễ cây, thân cây, cành cây, lá cây. không tạo thành cái cây (hệ thống) mà chỉ là đồng củi. Vài ba người ghép lại ở với nhau cũng không thành gia đình, bởi vì họ thiếu những quan hệ thuộc về gia đình.