CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh tim mạch Các bệnh tim mạch do sự dối loạn về tim và mạch máu, bao gồm: bệnh tim mạch vành - bệnh của các mạch máu cung cấp cho cơ tim; bệnh mạch máu não - bệnh của các mạch máu cung cấp cho não; bệnh động mạch ngoại biên - bệnh của các mạch máu cung cấp các cánh tay và chân; bệnh tim thấp khớp - thiệt hại cho cơ tim và van tim do sốt thấp khớp, gây ra do vi khuẩn liên cầu khuẩn; bệnh tim bẩm sinh - dị tật tim cấu trúc hiện tại khi sinh; huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi - cục máu đông trong các tĩnh mạch ở chân, có thể đánh bật và di chuyển đến tim và phổi. Theo báo cáo mới đây nhất năm 01/2011 của tổ chức WHO [29], Các bệnh đường tim mạch (Cardiovascular deaseas (CVDs)) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, ước tính khoảng 17,1 triệu người chết vì bệnh CVDs vào năm 2004, chiếm 29% các ca tử vong trên thế giới.
Trong đó, ước tính khoảng 7,2 triệu người là là do bệnh vành tim và 5,7 triệu do đột quỵ. Trong đó 82% các ca tử vong do bệnh tim mạch diễn ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình và xuất hiện cân bằng ở cả nam giới và nữ giới. Tính đến năm 2030, sẽ có khoảng 23,6 triệu người bị chết vì bệnh tim mạch, chủ yếu do bệnh tim và đột quỵ. Số lượng ca lớn nhất xuất hiện ở vùng Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, theo điều tra của Viện tim mạch - bệnh viện Bạch Mai, bệnh tim mạch là bệnh có nguy cơ gây tử vong cao. Năm 1980, bệnh tim mạch là bệnh gây tử vong cao đứng hàng thứ tư, còn từ năm 2000 thì bệnh này gây tử vong hàng đầu.1 Mối nguy hiểm của bệnh tim mạch [13] T 0 T 0T 0 T 0 Theo các năm Hàng đầu Thứ hai Thứ ba Thứ tư 1980 Nhiễm khuẩn Sơ sinh Ung thư Tim mạch 1990 Nhiễm khuẩn Tim mạch Ung thư Sơ sinh 2000 Tim mạch Ung thư Các nguyên nhân khác Nhiễm khuẩn Trong thập kỷ gần đây nhất, các biến chứng của bệnh tăng huyết áp và các bệnh có liên quan đã trở thành nổi bật, thường ở lứa tuổi 50 trở lên, và xu hướng trẻ dưới lứa tuổi đó ngày càng rõ (30-40 tuổi). Nguyễn Thị Hồng Ngân 11 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa học Nguyên nhân của các bệnh tim mạch phần lớn do sự mất cân bằng giữa hai quá trình: quá trình đông tụ máu và quá trình hòa tan các cục máu đông. Trong đó, tác nhân gây đông tụ máu chính là các khối fibrin hình thành từ fibrinogen dưới tác dụng của thrombin.
Quá trình làm tan các cục máu đông phụ thuộc vào hoạt động của plasmin duy nhất trong cơ thể có tác dụng này và nó được hoạt hóa bởi nhân tố hoạt hóa plasminogen của mô [65]. Trong điều kiện sức khỏe bình thường, lượng enzym plasmin sinh ra có khả năng làm tan hết các cục máu đông trong mạch máu hoặc trong tim. Ngược lại, khi lượng plasin sinh ra không đủ để làm tan hoàn toàn các cục máu đông, các cục máu này sẽ tích tụ dần trong tim và mạch máu, làm cho kích thích lưu thông của máu trong mạch giảm, giảm sự troa đối O2 và CO 2 giữa R R R R máu và các bộ phận khác dẫn tới cao huyết áp và hàng loạt bệnh tim mạch khác [65]. Đứng trước sự nguy hiểm của căn bệnh này, trong suốt các thập niên gần đây, các nhà khoa học đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu để tìm ra giải pháp phòng và chữa các loại bệnh tim mạch.
Một trong những nghiên cứu đó đã chỉ ra rằng các thực phẩm lên men truyền thống ở châu Á như natto, Tofuyo của Nhật và Chungcook-jang của Hàn Quốc… không chỉ có giá trị dinh dưỡng mà còn có tác dụng phòng và chữa bệnh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tuổi thọ trung bình của người dân ở những nước này khá cao. Đậu tương Trong hạt đậu tương có các thành phần hóa học sau: protein (40%), lipip (12- 25%), glucid (10-15%), các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, D, E, F, các enzym, sáp, nhựa, xellulose [5, 7]. Hàm lượng protein cao trong đậu tương cũng như nhiều hợp chất có giá trị khiến đậu tương trở thành một trong những thực phẩm quan trọng trên thế giới.
Hạt họ đậu nói chung chưa hoàn toàn cân đối về axit amin, trong đó, glutamic, cystein và methionie thường thiều, tuy nhiên trong đậu có đủ các axit amin cơ bản như isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Ngoài ra, đậu tương được coi là một nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các axit amin không thay thế cần thiết cho cơ thể. Nguyễn Thị Hồng Ngân 12 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa học Bảng 1.2 Giá trị dinh dưỡng của 100 g đậu tương [Cơ sở dữ liệu USDA] T 0 T 0 Năng lượng 1,866 kJ (446 Protein 36,49 g kcal) Các bon hyđrát 30,16 g Tryptophan 0,591 g Đường 7,33 g Threonine 1,766 g Chất xơ thực phẩm 9,3 g Isoleucine 1,971 g Chất béo 19,94 g Leucine 3,309 g Chất béo no 2,884 g Lysine 2,706 g Chất béo không no 4,404 g Methionine 0,547 g đơn Chất béo không no đa 11,255 g Cystine 0,655 g Vitamin A equiv, 1 μg (0%) Phenylalanine 2,122 g Vitamin B6 0,377 mg (29%) Tyrosine 1,539 g Vitamin B12 0 μg (0%) Valine 2,029 g Vitamin C 6,0 mg (10%) Arginine 3,153 g Vitamin K 47 μg (45%) Histidine 1,097 g Can xi 277 mg (28%) Alanine 1,915 g Sắt 15,70 mg (126%) Axít aspartic 5,112 g Ma giê 280 mg (76%) Axít glutamic 7,874 g Phốt pho 704 mg (101%) Glycine 1,880 g Ka li 1797 mg (38%) Proline 2,379 g Muối ăn 2 mg (0%) Serine 2,357 g Thiếc 4,89 mg (49%) Nước 8,54 g Chính vì thành phần dinh đưỡng dồi dào mà đậu tương được chọn làm môi trường để nuôi cấy vi sinh vật và không cần bổ sung thêm bất kỳ chất nào nữa. Môi trường đậu tương thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển và tổng hợp enzym.
Vỏ của hạt đậu tương là một thành phần đáng quan tâm vì nó chứa nhiều chất khoáng mà theo nhiều nghiên cứu thì các chất này đóng vai trò quan trọng trong Nguyễn Thị Hồng Ngân 13 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa học hiệu quả tổng hợp nattokinaza của chủng Bacillus subtilis khi lên men trên môi trường đậu tương [6, 58] Bảng 2.2 Thành phần hóa học của đậu tương (% chất khô) [5] Chất khô Protein Xơ Khoáng Lipit Hạt có vỏ 91.2 11 Hạt không vỏ 95. Natto Natto là chữ ghép của Nat (nộp) và To (đậu) với nghĩa là “đậu nành lên men" đã xuất hiện ở Nhật vào năm 1068. “Natto” là những hạt đậu nành đã luộc chín được ủ với vi khuẩn (Bacillus natto). Là một món ăn dân dã rất phổ biến ở nông thôn Nhật bản, họ thường ăn cơm sáng với Natto, nước tương với rong biển phơi khô (Nori) và trứng gà sống.
Natto có mùi, nhớt, ẩm bao phủ bởi các sợi tơ màu trắng. Từ trước đến nay, có nhiều thức ăn từ đậu nành lên men như các loại Tương (miso), Chao. bằng những chủng nấm mốc như Aspergillus, Rhozipus hay Actinomucos nhưng chỉ có Natto là lên men từ vi khuẩn Bacillus subtilis có trong rơm rạ và được gọi phổ biến là Bacillus Natto Hình 1.3 Natto lên men từ đậu tương 1.1 Hiệu quả dinh dưỡng của Natto-thực phẩm chức năng Khuynh hướng ngày càng tiêu thụ sản phẩm Natto vì tin rằng Natto không những là thức ăn rẽ tiền dễ tiêu, nhiều protein và không gây hại như các loại thực phẩm chế biến công nghiệp (ăn liền) mặc dù mùi “hương” của natto vẫn gây khó chịu, cực kỳ khó ngửi. Đây cũng là điểm yếu mà các nhà sản xuất thực phẩm ra sức Nguyễn Thị Hồng Ngân 14 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa học khắc phục bằng cách pha trộn với hạt dẻ (1) hun khói, sấy khô với cám lúa mạch (2), thêm calci (3) Natto với loại rong tảo giàu Vitamin B-12 hay (5) Pha trộn Natto và gạo lức.
[27] Đã có những phát biểu đánh giá khá tích cực của giới chuyên môn vào những năm cuối và thập kỷ 1970 như nghiên cứu của GS Kameda - ĐH Y khoa Kanazawa về hiệu quả ngăn ngừa nhiễm độc, tế bào ung thư, kim loại nặng của natto trên cơ thể chuột hay như tổng kết của GS Ohta thuộc viện nghiên cứu Thực phẩm quốc gia (Nhật Bản) rằng” có nhiều chứng cớ qua nghiên cứu cơ bản cho thấy hiệu quả của natto như ngăn ngừa bệnh kiết lỵ, tiêu chảy và nhiễm độc đường ruột hay giảm béo …giữa các nhà chuyên môn mặc dù cho dến nay vẫn còn nhiều tranh cãi” nhưng rõ ràng là người ăn natto không bị đầy hơi, trướng bụng như khi ăn các loại đậu khác, có nghĩa là enzym natto có khả năng là một hoạt chất có ích không thể phủ nhận.2 Ngăn ngừa chứng tim mạch bằng Natto: an toàn và rẻ nhất Giá 1 liều Urokinaza, thuốc làm tan vón máu rất đắt tiền, khoảng 1,500 USD/liều và chỉ hữu hiệu trong vòng 30 phút hay sử dụng thuốc t-PA có hiệu quả trong 3-6 giờ và có giá lên đến 2,200 USD/liều , rẻ nhất cũng là 200USD/liều nếu dùng Streptokinaza hiệu quả trong vòng 12 tiếng trong khi 100 gr Natto chỉ là 1 USD có cùng hiệu quả tương đương kéo dài 8-12 tiếng dồng hồ và an toàn vì Natto ít có phản ứng phụ như Urokinaza [27]. Những thành quả của TS. Sumi Hiroyuki cũng đã được hai vị chuyên gia ở hai khu vực khác nhau phối hợp nghiên cứu, đó là BS. Martin Milner ở Trung tâm Y khoa tự nhiên Portland, bang Oregon (Hoa kỳ) và TS.
Kouhei Makise thuộc bệnh viện Makise ở Kyoto, cùng công bố kết quả qua bài viết trên tạp chí chuyên môn kết luận rằng “là chuyên gia lâu năm về tim mạch và hô hấp chúng tôi nhất trí khẳng định rằng Nattokinaza là một phát hiện đầy phấn chấn trong việc ngăn ngừa và điều trị các chứng bệnh liên quan đến tim mạch”, và “chúng tôi xác định Nattokinaza là một hoạt chất thiên nhiên có thể làm tan các huyết khối hữu hiệu, không gây dị ứng và có độ an toàn cao” hơn cả Tỏi, Nhân sâm Triều tiên hay Bromelain (từ quả Dứa) thúc đẩy sản sinh ra Plasmin trong quá trình thủy phân sợi Fibrin [27]. Nguyễn Thị Hồng Ngân 15 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa học 1.1 Cấu trúc của Nattokinaza Nattokinaza (NK) là enzym phân hủy fibrin do Bacillus natto tạo ra.