đặt vấn đề cụ thể trên TTCK khi cổ phiếu được lựa chọn để mua, thì các NĐT thường xem xét đến những sự kiện gần đây chú ý đến họ. Hay nói cách khác, sự chú ý có sự giới hạn về mặt thông tin hay bản chất nhưng lại mở ra cơ hội đầu tư rất nhiều, vì vậy các NĐT nhỏ lẻ tập trung các thông tin sẵn có của cổ phiếu như khối lượng giao dịch, tỷ lệ sinh lời bất thường,. Hay các NĐT cũng có khuynh hướng tập trung đến các khoản lãi lớn của công ty để mua cổ phiếu, nhưng lại bán tháo cổ phiếu nếu công ty có khoản lỗ bất ngờ, đây được xem là sự điển hình về việc các cá nhân NĐT tập trung vào xu hướng sẵn có của thông tin chứ không quan tâm nhiều đến nguyên nhân thay đổi bất thường (Frieder, 2004). Neo quyết định Yates (1990) cho rằng đây là hiện tượng sự tự nghiệm của NĐT trong tình trạng nghèo nàn về thông tin, dẫn đến việc các NĐT cho rằng giá hiện tại với cổ phiếu là đúng.
Hay trong một thị trường có sự tăng trưởng thì thông tin sẽ được neo vào giá cổ phiếu sẽ tăng vì nó gần đúng với những báo cáo trước đây. Các NĐT thường đặt trọng tâm nhiều vào các kinh nghiệm trước đây, dẫn đến các xu hướng ngoại suy gây xung đột với các xác suất và trung bình trong dài hạn của các kịch bản mới. Kahneman và Tversky (1974) lý luận rằng khi hình thành những dự đoán, người ta thường bắt đầu với một vài giá trị ban đầu, giá trị bất kỳ có thể chấp nhận được và sau đó điều chỉnh cách xa nó. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng sự điều chỉnh thường thiếu sót.
Nói cách khác thì các NĐT quá neo suy nghĩ của mình vào các giá trị ban đầu, trong tình trạng thiếu những thông tin tốt, nên giá của quá khứ được xem là vấn đề quan trọng dẫn đến giá của hôm nay. Do đó, điểm neo của giá cả được ghi vào lần gần đây nhất, sẽ ép buộc NĐT neo mức giá của cổ phiếu trong ngày kế tiếp cũng giống như vậy. Sự quá tự tin Pompian (2006) cho rằng các NĐT luôn cho rằng cá nhân của họ sẽ có những thời điểm rơi vào tình huống đánh giá cao kiến thức, đánh giá thấp khó khăn và cường điệu hóa khả năng của mình có thể kiểm soát được mọi thứ. Hay nói cách khác cho rằng bản thân mình thông minh và nắm bắt được tất cả thông tin hơn là thực tế họ có.
Sự tự tin trong tài chính bao gồm ba khía cạnh chính đó là hiệu chỉnh sai làm cho xác 12 suất chủ quan cao hơn thực tế diễn ra, hiệu ứng tốt hơn mức bình quân làm cho họ nghĩ có khả năng hơn mức bình quân, ảo tưởng về năng lực kiểm soát luôn cho rằng mình có thể dự đoán và tạo ra những điều tốt đẹp (Odean, 1998; Gervais và Odean, 2001; Glaser và Weber, 2004). Chính vì thế Pompian (2006) chỉ ra những sai lầm khi NĐT quá tự tin vào bản thân mình đó là khiến họ định giá sai lầm vào một dự án quá tiềm năng nhưng thực tế chưa hẳn là vậy. Sự tự tin làm cho các NĐT tin tưởng một giao dịch sẽ có một kết quá bất ngờ hay thật sự đặc biệt với bản thân nhưng chưa thật sự đo lường, hoặc có thể diễn ra. Ngoài ra, nó khiến cho các NĐT đánh giá thấp những rủi ro hay tự mình gia tăng khẩu vị rủi ro và phớt lờ những cảnh báo.
Cuối cùng khi quá tự tin thì các NĐT tập trung vào một danh mục đầu tư mà mình cho là chắc chắn, tạo ra sự kém đa dạng không phân tán rủi ro. Thông thường các NĐT có sự tin cao thường sẽ tập trung giao dịch với khối lượng hay giá trị lớn (Statman và cộng sự, 2003; Glaser và Weber, 2003). Ảo tưởng con bạc Kahneman và Tversky (1971) nhận định rằng ảo tưởng con bạc là một trong những xu hướng mà NĐT thường hay gặp với việc nhận thức thiếu đúng đắn về sự công bằng với quy luật diễn ra của cơ hội. Hay nói cách khác, một sự kiện nào đó tác động tiêu cực thật sự lên TTCK có thể làm cho các NĐT chịu tổn thất là chắc chắn, nhưng sự ảo tưởng này lại khiến NĐT cho rằng sẽ có sự đảo chiều.
Sự ảo tưởng này như một con bạc đang thua và kỳ vọng mình sẽ thắng trở lại nếu giữ sự kiên trì, hay các NĐT sẽ nghĩ rằng có sự lội ngược dòng giữa việc giảm giá thành tăng giá của cổ phiếu và bị thu hút bởi tư tưởng của người đi đầu hay ngược với trảo lưu. Ảo tưởng con bạc được cho là nảy sinh khi một NĐT có xu hướng muốn đầu cơ theo quan điểm là những sai sót trong những biến cố ngẫu nhiên thì tự hiệu chỉnh. Phản ứng quá mức Phản ứng quá mức hay sự thận trọng được xem là kết quả của việc các NĐT đặt sự quan trọng quá nhiều cho các tin tức vừa xảy ra và nó không có lợi cho những thông tin khác (De bondt và Thaler, 1985). Ngoài ra, Amir và Ganzach (1998) cho rằng dưới góc độ đầu tư khi NĐT chịu sự tác động của sự tự nghiệm điển hình thì có 13 xu hướng đưa ra những dự đoán cực đoạn hay sẽ phản ứng quá mức.
Điều này được dẫn chứng trong TTCK nếu giá tăng lên hay giảm xuống thì sự phản ứng quá mức khiến cho NĐT đánh giá nó là thông tin tốt hay xấu tương ứng. Vì thế, các NĐT khi không có những thông tin hay sự phân tích chắc chắn về giá cổ phiếu hiện tại, mà lại bi quá bi quan hay quá lạc quan về giá trị của nó dựa trên các thông tin công ty đang lời hay lỗ (Offerman và Sonnemans, 2004). Các yếu tố thuộc khuynh hướng cảm xúc Các yếu tố thuộc khuynh hướng cảm xúc thuộc các lý thuyết liên quan đến hữu dụng kỳ vọng hay triển vọng, được xem là hai phương pháp tiếp cận đối với việc ra quyết định theo những quan điểm khác nhau. Trong đó, lý thuyết triển vọng tập trung vào sự chủ quan bị tác động bởi hệ thống giá trị của NĐT, nhưng lý thuyết hữu dụng lại tập trung vào những kỳ vọng hợp lý của NĐT (Filbeck và cộng sự, 2005).
Do đó, lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được xem là hình mẫu mô tả về các hành vi kinh tế, tác động đến những phân tích dựa trên các điều kiện có rủi ro, nhưng hạn chế của lý thuyết này là không lý giải được sự hấp dẫn của bảo hiểm hay sự mạo hiểm đến NĐT. Mặt khác, vẫn luôn có sự tồn tại khuynh hướng xem nhẹ những hệ quả có thể xảy ra so với những điều chắc chắn và NĐT phản ứng khác nhau đối với những tình huống giống nhau tùy thuộc vào phạm vi của những khoản lỗ hoặc những khoản lãi mà họ có được (Kahneman và Tversky, 1979). Vì vậy, trái ngược với việc tính toán các điều kiện có xác suất xảy ra rủi ro thì lý thuyết triền vọng mô tả một số trạng thái về tinh thần có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của một NĐT bao gồm sợ thua lỗ, tính toán bất hợp lý và tránh hối tiếc. Cụ thể đó là: 2.
Sợ thua lỗ Kahneman và Tversky (1979) cho rằng việc các NĐT luôn có quan điểm về việc sợ thua lỗ và không thích những rủi ro mang tính chắc chắn xảy ra. Nguyên nhân xuất phát từ việc họ nhạy cảm với các khoản thua lỗ, rủi ro hơn là các khoản lãi hay sự thuận lợi, mặt khác họ thường có xu hướng thực hiện những hành động mạo hiểm để né tránh các rủi ro chắc chắn hay hạn chế được khả năng thua lỗ. Tuy nhiên, những khoản thua lỗ có tỷ trọng gấp hai lần các khoản lãi, có nghĩa là việc thua lỗ một đơn vị tiền gây sự muộn phiền gấp đôi sự vui mừng khi kiếm được một đơn vị tiền lãi 14 (Tversky và Kahneman, 1991). Mặc dù như vậy nhưng NĐT vẫn luôn có xu hướng mạo hiểm khi gặp thua lỗ và giữ kỳ vọng cuối cùng tình trạng này sẽ chuyển biến thành có lợi nhuận.
Tính toán bất hợp lý Thaler (1980) cho rằng sự tính toán bất hợp lý được xem là xu hương mà NĐT mã hóa, phân loại, đánh giá các kết quả tài chính bằng việc xếp hạng các điểm số dưới dạng tập hợp các tài khoản trong nhận thức. Hay Tversky và Kahneman (1991), Thaler (1985), Kahneman và Lovallo (1993) cho rằng các cổ đông sẽ chia doanh thu công ty thành nhiều phần nhỏ khác nhau, mỗi phần đó sẽ là một tài khoản trong nhận thức và toàn bộ quá trình xử lý đó được gọi là tính toán bất hợp lý. Điều này được luận giải vì khi thực hiện tách riêng các tài khoản khác nhau như vậy, thì các cổ đông hay các NĐT sẽ sử dụng các quy luật riêng thuộc lý thuyết triển vọng để lý giải riêng biệt trong khi việc các tài khoản này có thể tương tác với nhau hoặc là một thể thống nhất. Chính vì vậy sẽ tạo ra việc quyết định thiếu chính xác và không hiệu quả.
Mặt khác, nếu sự tách riêng là hợp lý thì ngoài những đánh giá về giác độ nội dung thì có thể tồn tại với khía cạnh thời gian (Goldberg và Nitsch, 2001). Tránh hối tiếc Thông thường các cá nhân NĐT thường sẽ hối tiếc hay tiếc nuối bởi những sai lầm mà mình gây ra, kể cả đó là những sai lầm nhỏ. Sự hối tiếc là cảm giác thuộc phạm trù cảm xúc, đó là sự kết hợp giữ sự nhận biết hồi tố với quyết định đã lựa chọn quá khứ có sự sai khác với hiện thực tốt hơn. Do đó, NĐT khi muốn tránh sự hối tiếc thì họ sẽ có xu hướng thay đổi hành vi của mình mặc dù không hợp lý.
Larrick và Boles (1995) cho rằng để tránh việc sai lầm trong các dự đoán thì thường các NĐT sẽ trì hoãn việc bán hay mua các cổ phiếu vừa tăng giá hay giảm giá (Shefrin và Statman, 1985). Hành vi bầy đàn Snir và cộng sự (2012) cho rằng sự bầy đàn thường được mô tả như hành vi của các cá nhân bắt chước nhau, khi có sự quan sát người khác khi đi theo những chuyển động của thị trường, thay vì việc độc lập trong các suy nghì hay tính toán hoặc 15 các thông tin mình thu thập được. Trong TTCK thì hành vi bầy đàn sẽ rất ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, làm cho giá có khoảng cách xa hay gần với giá trị thực tế của cổ phiếu.