Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Kinh tế của tác giả Hoàng An (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, do TS. Phạm Thu Thủy hướng dẫn khoa học) tập trung vào đề tài: "Pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam".

Trải qua gần 40 năm đổi mới, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn được Đảng và Nhà nước xác định là bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực quan trọng đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ trương này đã được thể chế hóa thông qua các chính sách trong nhiều lĩnh vực: quốc tịch, xuất nhập cảnh, đất đai, nhà ở, đầu tư, kinh doanh và lao động. Trong đó, chính sách cho phép kiều bào sở hữu nhà ở tại Việt Nam giữ vị trí then chốt, vừa thu hút dòng ngoại tệ đầu tư vào thị trường bất động sản, đóng góp ngân sách qua thuế và phát triển dịch vụ liên quan, vừa tạo lập nơi an cư ổn định cho bà con khi trở về quê hương.

Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn cho thấy dù hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ này tương đối phong phú và thường xuyên được sửa đổi, hiệu quả áp dụng trên thực tế vẫn chưa cao; số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài chính thức xác lập quyền sở hữu nhà ở tại quê hương còn rất khiêm tốn. Tình trạng này bắt nguồn từ những quy định còn mang tính chung chung, thiếu cơ chế hướng dẫn cụ thể và đồng bộ, dẫn đến nhiều vướng mắc hành chính và rủi ro pháp lý khi kiều bào phải nhờ người thân đứng tên hộ. Đặc biệt, tại thời điểm tác giả thực hiện khóa luận (năm 2023), quá trình tổng kết Nghị quyết 18/NQ-TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và việc xây dựng dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện thể chế nhằm khai phóng nguồn lực của kiều bào.

Khóa luận xác định thực hiện ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bao gồm đối tượng, điều kiện sở hữu, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu.
  2. Đánh giá thực trạng sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành và số liệu thực tế.
  3. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đồng thời kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn đời sống.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của nhóm chủ thể này; thực trạng thực thi pháp luật và các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo cứu hệ thống pháp luật từ năm 2001 đến năm 2023, trọng tâm là giai đoạn từ khi Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, đồng thời đối chiếu với các giai đoạn lập pháp trước đó và liên hệ với các đề xuất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp với các đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng gồm:

  • Phương pháp thu thập, phân tích, liệt kê và tổng hợp: Sử dụng để hệ thống hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, các số liệu thống kê về nhu cầu và thực trạng sở hữu nhà ở của kiều bào, cũng như kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Phục vụ việc nhận diện những khó khăn, vướng mắc, bất cập nảy sinh trong quá trình thi hành pháp luật về nhà ở và đất đai đối với kiều bào.
  • Phương pháp so sánh luật học, diễn giải và quy nạp: Đối chiếu các quy phạm pháp luật qua từng thời kỳ (Luật Đất đai 1987, 1993, 2001, 2003, 2013; Luật Nhà ở 2005, 2014) nhằm đánh giá tiến trình hoàn thiện thể chế, chỉ rõ những điểm mới, hạn chế và quy nạp thành các luận cứ cho giải pháp hoàn thiện.

Nền tảng lý thuyết và khung pháp lý thực định được tác giả khai thác bao gồm:

  • Khái niệm chủ thể: Căn cứ khoản 4 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998; Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 17 Hiến pháp năm 2013 để phân loại người Việt Nam định cư ở nước ngoài thành hai nhóm: công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
  • Khái niệm quyền sở hữu tài sản và nhà ở: Căn cứ Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 (quy định về quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt); Điều 3, Điều 4 và khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 22 Hiến pháp năm 2013 (về quyền bất khả xâm phạm chỗ ở).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu: Luật Đất đai năm 2013 (Điều 97, Điều 105, Điều 186); Luật Nhà ở năm 2014 (Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 118); Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai); Nghị định số 99/2015/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở); cùng các văn bản lập pháp thời kỳ trước như Luật số 34/2009/QH12, Nghị định số 81/2001/NĐ-CP, Nghị định số 90/2006/NĐ-CP.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

Chương 1 tập trung phân tích các nền tảng lý luận, nội hàm khái niệm, ý nghĩa kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển lập pháp về quyền sở hữu nhà ở của kiều bào.

Tác giả chỉ rõ sự tiến hóa của thuật ngữ pháp lý chỉ người Việt Nam ở nước ngoài qua các thời kỳ: từ khái niệm "Kiều dân" trong Sắc lệnh số 47 năm 1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đến các thuật ngữ "Việt kiều", "người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài" trước năm 1982; thuật ngữ "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" tại Quyết định số 84-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng; và được pháp điển hóa rõ nét trong Luật Quốc tịch năm 1998, Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014). Theo quy định hiện hành, chủ thể này bao gồm công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Về ý nghĩa thực tiễn, số liệu trích dẫn trong văn bản cho thấy:

  • Tính đến cuối năm 2020, có hơn 5,3 triệu kiều bào sinh sống, học tập và làm việc tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.
  • Lượng kiều hối chuyển về nước hàng năm tương đương khoảng 7% GDP.
  • Tính đến tháng 10/2022, kiều bào đã đầu tư 385 dự án FDI tại 29 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD, tập trung vào chế biến, chế tạo, kinh doanh bất động sản, lưu trú.
  • Trong tổng số kiều bào, có khoảng 3,8 triệu người đã đến tuổi nghỉ hưu với mong muốn trở về quê hương ổn định cuộc sống; tổng tích lũy, thu nhập ước tính đạt khoảng 100 tỷ USD. Khóa luận dẫn nhận định chuyên gia: nếu khai thác bán được 3 triệu căn nhà/căn hộ (mức giá 2 - 20 tỷ đồng/căn) cho phân khúc kiều bào, dòng vốn thu về cho đất nước có thể đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng.

Về cấu trúc pháp luật, tác giả hệ thống hóa thành ba nhóm quy phạm: (1) Nhóm quy phạm về nội dung sở hữu; (2) Nhóm quy phạm về trình tự, thủ tục xác lập quyền; (3) Nhóm quy phạm về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu. Các yếu tố ảnh hưởng được phân tích trên hai bình diện: yếu tố khách quan (điều kiện kinh tế - xã hội, đường lối của Đảng, phong tục tập quán "uống nước nhớ nguồn", điều ước quốc tế) và yếu tố chủ quan (hoạt động lập pháp, trình độ văn hóa pháp lý, năng lực bộ máy cán bộ thừa hành).

Quá trình phát triển lịch sử của chế định này được tác giả chia làm 4 giai đoạn cụ thể:

Giai đoạn lịch sử Văn bản điều chỉnh tiêu biểu Quyền năng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trước năm 2001 Luật Đất đai 1987, Nghị định 389/HĐBT (1990), Luật Đất đai 1993, Pháp lệnh năm 1994, Luật sửa đổi 1998. Không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất; chỉ được thuê nhà, thuê đất hoặc sở hữu công trình xây dựng trong thời hạn thuê đất.
Từ 2001 đến trước Luật Đất đai 2003 Luật sửa đổi Luật Đất đai năm 2001 (Điều 80), Nghị định 81/2001/NĐ-CP. Bước đầu cho phép mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở nhưng phạm vi đối tượng rất hẹp (nhà đầu tư lâu dài, nhà khoa học, người có công, người có nhu cầu sống ổn định); giới hạn sở hữu duy nhất 01 căn nhà.
Từ Luật Đất đai 2003 đến trước Luật Đất đai 2013 Luật Đất đai 2003 (Điều 121), Luật Nhà ở 2005 (Điều 126), Nghị định 90/2006/NĐ-CP, Luật số 34/2009/QH12, Nghị quyết 19/2008/QH12, Nghị định 71/2010/NĐ-CP. Mở rộng đối tượng (5 nhóm theo Luật 2003; người về cư trú từ 6 tháng trở lên theo Luật 2005). Tuy nhiên kết quả thực tế rất thấp: từ khi thi hành Luật Nhà ở 2005 đến hết 2008 chỉ có hơn 140 trường hợp được cấp quyền sở hữu. Luật số 34/2009/QH12 tiếp tục nới lỏng điều kiện cư trú.
Từ Luật Đất đai 2013 đến nay (2023) Luật Đất đai 2013 (Điều 5, 97, 105, 186), Luật Nhà ở 2014 (Điều 7, 8, 9, 10, 118), Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Nghị định 99/2015/NĐ-CP. Xóa bỏ ranh giới phân biệt đối xử về số lượng nhà ở sở hữu để ở; quy định bình đẳng quyền và nghĩa vụ sở hữu nhà ở như công dân trong nước; chuẩn hóa hồ sơ, thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định điều chỉnh các khía cạnh pháp lý then chốt của quyền sở hữu nhà ở đối với kiều bào theo Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và các nghị định hướng dẫn thi hành:

  • Về đối tượng và điều kiện xác lập: Pháp luật phân định rõ hai nhóm chủ thể: (1) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (chứng minh bằng hộ chiếu Việt Nam còn giá trị); (2) Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (chứng minh bằng hộ chiếu nước ngoài kèm giấy tờ xác nhận gốc Việt Nam). Trường hợp cá nhân nước ngoài có giấy tờ xác nhận gốc Việt Nam chỉ được quyền lựa chọn một tư cách áp dụng để xác định quyền sở hữu nhà ở.

  • Về các hình thức sở hữu nhà ở hợp pháp: Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 quy định ba phương thức tạo lập hợp pháp:

    1. Mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.
    2. Mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân (trường hợp không được phép nhập cảnh vào Việt Nam thì không được công nhận quyền sở hữu mà chỉ được ủy quyền định đoạt để hưởng giá trị tài sản).
    3. Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở (với điều kiện chủ đầu tư đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật, xã hội theo quy hoạch chi tiết 1/500).
  • Về thẩm quyền và quy trình cấp Giấy chứng nhận:

    • Thẩm quyền: Theo Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh (hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường được ủy quyền) cấp Giấy chứng nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; UBND cấp huyện cấp Giấy chứng nhận cho cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
    • Trình tự 3 bước theo Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:
Các bước thực hiện Cơ quan chịu trách nhiệm Nội dung nghiệp vụ chính
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ UBND cấp xã hoặc Văn phòng đăng ký đất đai / Bộ phận một cửa Tiếp nhận 01 bộ hồ sơ hợp lệ (đơn đăng ký, giấy tờ tạo lập nhà ở, chứng từ nghĩa vụ tài chính, sơ đồ đo vẽ, giấy tờ chứng minh đối tượng/quốc tịch); viết giấy biên nhận và hẹn trả kết quả.
Bước 2: Thụ lý hồ sơ UBND cấp xã, Văn phòng đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường Xác nhận hiện trạng sử dụng đất, niêm yết công khai 15 ngày tại trụ sở xã; kiểm tra điều kiện cấp Giấy chứng nhận; lấy ý kiến cơ quan quản lý chuyên ngành (trả lời trong 05 ngày làm việc nếu cần); cập nhật hồ sơ địa chính.
Bước 3: Trả kết quả Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Bộ phận một cửa Trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người yêu cầu sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính; lưu trữ hồ sơ theo quy định.
  • Về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu: Căn cứ Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014 và Điều 186 Luật Đất đai năm 2013:
    • Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở: Được pháp luật bảo hộ theo chuẩn mực Hiến pháp 2013; chỉ bị hạn chế trong trường hợp đặc biệt do luật định (quốc phòng, an ninh, trưng dụng khẩn cấp).
    • Quyền sử dụng và khai thác: Toàn quyền khai thác công năng, hưởng hoa lợi, lợi tức phục vụ mục đích để ở và các mục đích khác mà pháp luật không cấm.
    • Quyền thực hiện giao dịch dân sự: Mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp (tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam), góp vốn, ủy quyền quản lý (theo Bộ luật Dân sự 2015, có thời hạn 1 năm nếu không có thỏa thuận khác).
    • Quy định đặc thù về thừa kế: Trường hợp người nhận thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở tại Việt Nam thì không được cấp Giấy chứng nhận nhưng được quyền chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế để hưởng giá trị tài sản (khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013).
    • Quyền bảo trì, cải tạo, tái định cư: Được quyền duy tu, phá dỡ, cải tạo công trình xây dựng; đối với căn hộ chung cư được quyền sở hữu chung phần hạ tầng tiện ích và được bố trí tái định cư khi nhà chung cư phá dỡ, xây dựng lại theo Điều 36 Luật Nhà ở năm 2014.

Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật và định hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

Chương 3 tổng kết các hạn chế trong thực tiễn áp dụng và đề xuất định hướng, kiến nghị sửa đổi thể chế:

  • Đánh giá thực tiễn thi hành: Mặc dù khung pháp luật đã mở rộng hơn so với trước năm 2014, tình trạng kiều bào nhờ người thân ở trong nước đứng tên trên giấy tờ nhà đất vẫn diễn ra phổ biến. Điều này làm phát sinh các vụ việc tranh chấp dân sự phức tạp khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hoặc khi người đứng tên hộ qua đời, gây tổn hại trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người thực tế bỏ tiền mua tài sản.
  • Nguyên nhân của bất cập: Bắt nguồn từ thủ tục xác nhận nguồn gốc Việt Nam còn rườm rà đối với thế hệ kiều bào thứ hai, thứ ba; sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 liên quan đến quyền tiếp cận đất đai ngoài dự án nhà ở thương mại; cùng với tâm lý e ngại quy trình hành chính phức tạp, kéo dài tại các cơ quan quản lý nhà nước địa phương.
  • Định hướng và giải pháp:
    • Bám sát quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai và phát huy tối đa các nguồn lực kiều bào.
    • Đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo hướng bình đẳng hóa toàn diện quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với công dân trong nước.
    • Cải cách thủ tục hành chính, số hóa hồ sơ địa chính, rút ngắn thời gian xác nhận quốc tịch/nguồn gốc Việt Nam, nâng cao trách nhiệm giải trình và thái độ phục vụ của cán bộ tại bộ phận một cửa.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với hệ thống dữ kiện pháp lý thực định:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lập pháp: Tác giả đã truy nguyên lịch sử lập pháp từ Sắc lệnh số 47 năm 1946 qua các mốc Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2001, 2003, 2013 và Luật Nhà ở năm 2005, 2014, giúp làm rõ sự chuyển biến tư duy lập pháp từ cấm đoán, hạn chế sang công nhận và mở rộng quyền sở hữu nhà ở cho kiều bào.
  • Dẫn chứng số liệu xác thực về kinh tế và thực thi pháp luật: Đưa ra các dữ liệu thực tế chứng minh tiềm năng to lớn của cộng đồng kiều bào (hơn 5,3 triệu người cuối năm 2020; 385 dự án FDI vốn 1,7 tỷ USD đến tháng 10/2022; kiều hối chiếm 7% GDP; 3,8 triệu người đến tuổi nghỉ hưu). Đồng thời, trích lục số liệu từ Tờ trình số 57/TTr-CP năm 2009 của Chính phủ chỉ ra giai đoạn thi hành Luật Nhà ở 2005 đến hết 2008 chỉ có hơn 140 kiều bào được công nhận quyền sở hữu nhà ở, minh chứng cho sự bất cập, thiếu khả thi của chính sách cũ.
  • Làm rõ ranh giới pháp lý thực định: Phân tích chi tiết thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận phân cấp giữa cấp tỉnh và cấp huyện; làm rõ cơ chế bảo đảm quyền lợi tài sản cho người thừa kế không thuộc diện sở hữu nhà ở thông qua việc nhận giá trị theo khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013; chỉ ra bản chất rủi ro của việc nhờ người thân đứng tên hộ.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Tác giả tự nêu điểm mới của đề tài là không dừng lại ở việc khảo sát Luật Nhà ở năm 2005 như đa số các luận văn giai đoạn trước (Nguyễn Hồng Bắc 2002, Ngô Thanh Hương 2013, Phạm Thị Thu Hương 2014, Phan Thị Tuyết Trinh 2016), mà phân tích chuyên sâu các quy định hiện hành theo Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và liên hệ trực tiếp với các nội dung thảo luận mới nhất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Số liệu thống kê cụ thể về số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mới chỉ dừng lại ở số liệu thống kê lịch sử giai đoạn 2005 - 2008 (hơn 140 trường hợp từ Tờ trình 57/TTr-CP), chưa thu thập được bảng số liệu định lượng cập nhật đầy đủ trên phạm vi toàn quốc cho giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2023 do sự phân tán dữ liệu tại các địa phương. Ngoài ra, việc nghiên cứu các giải pháp lập pháp mới chỉ dừng lại ở việc đối chiếu với bản dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đang lấy ý kiến nhân dân tại thời điểm 2023, chưa có điều kiện khảo sát thực tế khi luật mới chính thức được thông qua và có hiệu lực thi hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khảo cứu, đánh giá tác động thực tế của Luật Đất đai mới và Luật Nhà ở mới sau khi được Quốc hội thông qua đối với thị trường bất động sản dành cho kiều bào; triển khai các khảo sát định lượng diện rộng về tranh chấp dân sự liên quan đến hành vi nhờ người đứng tên mua nhà đất tại các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Pháp luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Đất đai, làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc nghiên cứu một đề tài pháp lý chuyên ngành, phương pháp đối chiếu lịch sử văn bản luật và kỹ năng phân tích cơ sở quy phạm.
  • Cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu chính sách: Cung cấp thêm các luận cứ khoa học và thực tiễn để phục vụ việc hoàn thiện các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các đạo luật mới về đất đai và nhà ở đối với chủ thể kiều bào.
  • Kiều bào, tổ chức hành nghề công chứng, luật sư và doanh nghiệp bất động sản: Phần phân tích tại Chương 2 là cẩm nang pháp lý hữu ích giúp tra cứu chính xác các điều kiện, giấy tờ chứng minh nguồn gốc/quốc tịch, các hình thức mua bán hợp pháp và trình tự 3 bước thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo đúng thẩm quyền hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phân chia thành những nhóm đối tượng cụ thể nào?
Căn cứ Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) và khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, đối tượng này được chia thành hai nhóm: (1) Công dân Việt Nam (người mang quốc tịch Việt Nam) cư trú, sinh sống lâu năm ở nước ngoài, gồm người chỉ có quốc tịch Việt Nam hoặc người có hai quốc tịch; (2) Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (người từng có quốc tịch Việt Nam theo nguyên tắc huyết thống khi sinh ra, nay đã mất quốc tịch Việt Nam, cùng con cháu của họ cư trú lâu dài ở nước ngoài).

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được xác lập quyền sở hữu nhà ở hợp pháp tại Việt Nam thông qua những hình thức nào?
Theo khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014, có ba hình thức: (1) Mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản; (2) Mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; (3) Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy hoạch.

3. Nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận thừa kế nhà ở nhưng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì quyền lợi được xử lý ra sao?
Căn cứ khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013, người thừa kế trong trường hợp này không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, nhưng được quyền chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế cho đối tượng được phép sở hữu để nhận giá trị tài sản thừa kế đó.

4. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho kiều bào được phân định như thế nào giữa cấp tỉnh và cấp huyện?
Căn cứ Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP: UBND cấp tỉnh (hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường) cấp Giấy chứng nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; còn UBND cấp huyện cấp Giấy chứng nhận cho cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

5. Giai đoạn thi hành Luật Nhà ở 2005 đến hết năm 2008 ghi nhận bao nhiêu trường hợp kiều bào được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Theo Tờ trình số 57/TTr-CP ngày 28/04/2009 của Chính phủ được trích dẫn trong khóa luận, trong giai đoạn từ khi triển khai Luật Nhà ở năm 2005 đến hết năm 2008, chỉ có hơn 140 trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, chủ yếu là các đối tượng về đầu tư lâu dài theo khoản 1 Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng An đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các quy phạm của Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 đặt trong tiến trình lịch sử lập pháp và bối cảnh sửa đổi Luật Đất đai năm 2023, công trình đã chỉ rõ những điểm tiến bộ cũng như các rào cản hành chính đang tồn tại. Các kết luận và giải pháp kiến nghị trong khóa luận có giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn rõ nét, hướng tới mục tiêu hoàn thiện thể chế nhằm khơi thông nguồn lực to lớn của kiều bào cho sự nghiệp phát triển đất nước.