BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG --------------------------------------- Nguyễn Văn Thơ PHƢƠNG PHÁP TỌA ĐỘ ĐỀ - CÁC VUÔNG GÓC TRONG HÌNH HỌC KHÔNG GIAN LUẬN VĂN THẠC SĨ Phƣơng pháp toán sơ cấp Hà Nội – Năm 2016 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG --------------------------------------- Nguyễn Văn Thơ – C00310 PHƢƠNG PHÁP TỌA ĐỘ ĐỀ - CÁC VUÔNG GÓC TRONG HÌNH HỌC KHÔNG GIAN LUẬN VĂN THẠC SĨ TOÁN HỌC Chuyên ngành: Phƣơng pháp toán sơ cấp Mã số: 60460113 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Tiến sĩ: Nhâm Ngọc Tần Hà Nội – Tháng 7 năm 2016 2 Thư viện Đại học Thăng Long MỤC LỤC Lời nói đầu…………………………………………………………………………………………… 4 Chƣơng I. Lịch sử phát triển và cơ sở lý thuyết……………………………….1 Lịch sử phát triển……………………………………………………….2 Hệ trục tọa độ Đề - các vuông góc trong không gian………….3 Phương trình đường, mặt và các quan hệ.4 Bài tập vận dụng.……27 Chƣơng II. Phƣơng pháp tọa độ Đề - các vuông góc ……………………….1 Phương pháp……………………………………………………………….1 Sơ lược về phương pháp………………………………………….2 Dấu hiệu nhận biết………………………………………………….4 Cách đặt hệ trục tọa độ với một số hình thường gặp…….2 Vận dụng phương pháp………………………….1 Một số bài tập nhóm dấu hiệu 1………………………………………45 2.2 Một số bài tập nhóm dấu hiệu 2………………………………………53 2.3 Một số bài tập nhóm dấu hiệu 3………………………………………58 2.3 Bài tập tự luyện…….…………………………………………………………69 Chƣơng III. Tính ƣu việt của phƣơng pháp tọa độ Đề - các vuông góc….1 So sánh phương pháp tọa độ Đề - các và phương pháp tổng hợp qua một số bài tập hình học không gian.2 Vận dụng phương pháp giải một số bài tập đại số ….3 Tính ưu việt của phương pháp…………………….…93 Tài liệu tham khảo…………………………………………………………….…94 3 Lời nói đầu Hình học không gian là một phần quan trọng trong chương trình toán trung học phổ thông hiện nay.
Các bài toán hình học không gian khá đa dạng và phức tạp, đòi hỏi người học phải có tư duy tốt. Một số bài toán về tính số đo góc, tính thể tích hay khoảng cách giữa hai đối tượng trong không gian nếu giải theo phương pháp tổng hợp thường là rất khó và tốn nhiều thời gian. Nhưng nếu giải theo phương pháp tọa độ Đề - các vuông góc thì thuận lợi rất nhiều. Hiện nay, có rất nhiều công cụ hỗ trợ cho việc tính toán với tốc độ rất nhanh và chính xác đã làm cho phương pháp tọa độ càng trở lên ưu việt trong quá trình giải toán.
Bởi vậy tôi muốn xây dựng một một phương pháp giải toán giúp các em học sinh phát huy năng lực tự học, sáng tạo của mình nên tôi chọn luận văn: “ Phƣơng pháp tọa độ Đề - các vuông góc trong hình học không gian”. Nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng I. Lịch sử phát triển và cơ sở lý thuyết. Lịch sử phát triển.
Hệ tọa độ Đề - các vuông góc trong không gian. Phương trình đường, mặt và các quan hệ. Một số bài tập vận dụng. Chƣơng II.
Phương pháp tọa độ Đề - các vuông góc trong hình học không gian. Sơ lược về phương pháp. 4 Thư viện Đại học Thăng Long 2. Vận dụng phương pháp tọa độ Đề - các vuông góc để giải một số bài tập hình học không gian (tính khoảng cách, tính góc, thể tích,.3 Một số bài tập tương tự.
Chƣơng III. Trình bày một số bài tập hình học không gian được giải theo hai phương pháp, phương pháp tọa độ và phương pháp tổng hợp cũng như vận dụng phương pháp giải một số bài tập đại số để thấy được tính ưu việt của phương pháp. Qua đó, giúp cho chúng ta có thể linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp giải sao cho phù hợp với từng bài tập hình học không gian cũng như Đại số. Qua đây tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Nhâm Ngọc Tần, Giảng viên khoa toán trường Đại học Thăng Long, Tiến sỹ đã đưa đề tài và hướng dẫn tận tình trong suốt qua trình tôi làm luận văn.
Đồng thời cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo phòng sau đại học đã tạo các điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản luận văn này. Các kiến thức phục vụ cho luận văn tuy không mới nhưng đòi hỏi nhiều kỹ thuật và có cách nhìn sâu, rộng. Vì trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy, các cô, sự đóng góp của bạn bè và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 6 năm 2016 Học viên Nguyễn Văn Thơ 5 Chƣơng I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN 1.1 Ba vấn đề lớn trong toán học cổ điển. [12] Trong thực tế, hình học chứa đựng rất nhiều vấn đề phức tạp khác nhau. Đường cong và đường thẳng là những hình vẽ cơ bản nhất của hình học cơ bản, nhân loại biết vẽ sớm nhất cũng chính là đường thẳng và đường tròn. Vẽ đường thẳng bằng một công cụ có cạnh bên thẳng, vẽ đường tròn bằng một công cụ có cạnh cố định và một cạnh có thể xoay.
Điều đó đã dẫn đến sự ra đời của thước kẻ và compa. Thước kẻ của người Hy lạp cổ đại chưa có đơn vị đo. Họ tự cảm nhận đơn vị đo bằng kinh nghiệm vẽ và gần như chỉ cần thước và compa là vẽ nên các hình vẽ trong hình học. Các hình vẽ trong hình học rất đa dạng, vì vậy theo yêu cầu vẽ hình học người ta đưa ra những ký hiệu đo phù hợp rồi dùng công cụ thô sơ vẫn có thể từng bước hoàn thành.
Nhưng toán học cổ đại vẫn gặp phải ba vấn đề khó tìm được câu trả lời đó là: *1. Vấn đề chia ba góc đều nhau: Chia một góc xác định thành ba góc bằng nhau. Vấn đề bội tích lập phương: Yêu cầu vẽ đường chéo của khối lập phương sao cho thể tích của khối lập phương này gấp đôi thể tích khối lập phương đã biết. Vấn đề chuyển đường tròn thành hình vuông: Yêu cầu vẽ một hình vuông sao cho diện tích của nó bằng với diện tích hình tròn đã biết.
6 Thư viện Đại học Thăng Long Nhìn bề ngoài ba vấn đề này tưởng như rất đơn giản. Hình vẽ của chúng dường như có thể thể hiện được ngay. Do vậy, hơn 2000 năm trôi qua, rất nhiều người đã theo đuổi nghiên cứu ba vấn đề khó này, họ đã đưa ra nhiều phương pháp giải quyết khác nhau. Những phương pháp này rất phù hợp với phương pháp vẽ bằng thước kẻ, compa nhưng tìm hiểu kĩ mới phát hiện thấy vấn đề này vẫn chưa được giải quyết.
Khi đó, các nhà bác học vẫn tìm mọi cách để thay đổi vấn đề. Trong quá trình tìm ra lời giải đáp, họ lại phát hiện ra một vài vấn đề có quan hệ mật thiết tới ba vấn đề này. Ví dụ như đường thẳng trong đường tròn, chia đều đường tròn, đường tròn nội tiếp hình đa cạnh,. nhưng vẫn chưa có ai tìm ra phương pháp giải quyết chúng.
Ba vấn đề lớn khó của hình học đã khiến không ít người dày công vắt óc vì nó, nhiều người đã thử sức nhưng đều không đem lại sự thành công. Sau này có người đã vô vọng ngộ nhận kết quả thật của nó, lại có người chuyển sang nghi ngờ ba vấn đề này có phải chỉ dùng thước kẻ và compa dựng lên được không? Các nhà toán học bắt đầu xem xét đến vấn đề hình vẽ nào có thể dùng phương pháp thước kẻ và compa, hình vẽ nào không thể dùng phương pháp đó, tiêu chuẩn là gì? Giới hạn đâu? 1.2 Bƣớc chuyển biến lớn. [11], [12] Đến thế kỷ XVII, nhà toán học pháp Đề - các ( René Descartes ) đã đưa ra những phán đoán tính khả năng vẽ hình bằng thước kẻ và compa dựa trên phương pháp tiến hành nghiên cứu từ Đại số. Đây thực sự là bước chuyển biến lớn nó đã trở thành chìa khóa để giải quyết ba vấn đề trên cũng như nhiều vấn đề khác của toán học.
Sau nhiều năm nghiên cứu và chiêm nghiệm đã thuyết phục ông là tất cả mọi khoa học đều có liên quan với nhau và chìa khóa cho sự liên quan đó là Toán học. Trong quyển sách nổi tiếng “Discours de la Méthodes” xuất bản vào năm 1637 ông đã nêu: “Chuỗi dài các lập luận dễ dàng và đơn giản mà các nhà Hình học quen dùng để đi tới các kết luận cho các chứng minh hóc hiểm nhất của họ đã khiến tôi nghĩ rằng tất cả mọi vật, đối với kiến thức mà con người có được, đều dính dáng lẫn nhau theo cùng một cách, và rằng từ trước đến giờ không có cái gì bị loại bỏ khỏi chúng ta lại ở ngoài tầm hiểu biết của chúng ta hay quá dấu kín đến nỗi chúng ta không phát hiện ra được, miễn là ta kiêng dè không chấp nhận cái sai thành cái đúng và luôn luôn gìn giữ trong tư tưởng của mình cái trật tự cần thiết cho sự diễn dịch từ cái đúng này đến cái đúng khác”. Ông giải thích rằng phương pháp của ông là sự hợp nhất “Giải tích (Hình học) của người xưa” và “Đại số của người hiện đại” và đề ra 4 quy tắc cơ bản của quy trình khi nói rằng “Bằng cách này tôi tin rằng tôi có thể vay mượn tất cả những gì tốt nhất trong Giải tích hình học và trong Đại số, và chỉnh sửa tất cả các khiếm khuyết của cái này nhờ sự trợ giúp của cái kia”. Nói rằng Descartes đã thành công trong việc hợp nhất tất cả các thứ khoa học là hơi quá đáng, nhưng ông đã làm được việc tái hợp hai họ toán học lớn là số lượng và hình dạng ở một trong ba phụ chương của quyển “Discours de la Méthode”, có tựa đề đơn giản là “La Géometrie” (Hình học).
Đây là ấn bản đầu tiên về Hình học giải tích. Trong phụ chương này ông đã áp dụng phương pháp đại số vào hình học khi biểu diễn và phân loại các đuờng cong và các hình hình học khác bằng các phương trình đại số liên kết với một hệ toạ độ. Ông đã dùng cách tiếp cận đại số này để khảo sát và giải quyết một số các câu hỏi hình học, trong đó có ba vấn đề lớn trên mà cho tới lúc đó vẫn còn chưa giải đuợc. 8 Thư viện Đại học Thăng Long Sau khi hình học giải tích ra đời (Sự hợp nhất số lượng và hình dạng) người ta đã biết được rằng đường thẳng và đường tròn được phân biệt bằng quỹ tích của phương trình bậc I và phương trình bậc II.